Tác động của marketing xanh đến hành vi tiêu dùng của khách hàng trong ngành thực phẩm tại Hà Nội

Chuyên khảo phân tích Chuyên đề tốt nghiệp tác động của marketing xanh đến hành vi tiêu dùng của khách hàng trong ngành, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo chuyên đề tốt nghiệp

2021

68
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MARKETING XANH

1.1. Marketing xanh và các khái niệm liên quan

1.1.1. Khái niệm marketing xanh

1.1.2. Marketing xanh hỗn hợp

1.1.3. Sản phẩm xanh

2. CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa bàn nghiên cứu

2.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

2.3.2. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp

2.3.3. Xây dựng mô hình và đề xuất giả thuyết

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Ngành F&B và chiến dịch “less plastic” tại Hà Nội

3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội của mẫu nghiên cứu

3.3. Hành vi tiêu dùng của khách hàng Hà Nội trong ngành F&B

3.4. Marketing xanh và hành vi tiêu dùng của khách hàng Hà Nội trong ngành F&B

3.5. Kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha

3.6. Phân tích nhân tố khám phá (EFA)

3.7. Kiểm định mô hình và các giả thuyết

3.8. Thảo luận kết quả

3.9. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hành vi tiêu dùng của khách hàng đối với các sản phẩm thân thiện với môi trường

4. CHƯƠNG 4: KIẾN NGHỊ

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về marketing xanh

Marketing xanh đã trở thành một khái niệm quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi mà các vấn đề môi trường ngày càng được chú trọng. Marketing xanh không chỉ đơn thuần là việc quảng bá sản phẩm mà còn là một chiến lược tổng thể nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Theo định nghĩa của Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ, marketing xanh bao gồm các hoạt động sản xuất, quảng bá và tiêu thụ sản phẩm với mục tiêu bảo vệ môi trường. Các doanh nghiệp cần phải tích hợp các yếu tố môi trường vào trong chiến lược kinh doanh của mình để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng về các sản phẩm thân thiện với môi trường. Điều này không chỉ giúp nâng cao nhận thức của người tiêu dùng mà còn tạo ra giá trị bền vững cho doanh nghiệp. Chiến lược marketing cần phải được thiết kế sao cho phù hợp với xu hướng tiêu dùng hiện đại, trong đó người tiêu dùng ngày càng có ý thức hơn về việc lựa chọn các sản phẩm xanh.

1.1 Khái niệm marketing xanh

Khái niệm marketing xanh đã được phát triển từ những năm 1960 và ngày càng trở nên phổ biến trong những thập kỷ gần đây. Theo Soonthonsmai (2007), marketing xanh là các hành động của tổ chức nhằm bảo vệ môi trường thông qua việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ thân thiện với môi trường. Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp thu hút khách hàng mà còn góp phần vào việc bảo vệ môi trường. Các nghiên cứu cho thấy rằng người tiêu dùng ngày càng có xu hướng lựa chọn các sản phẩm xanh, điều này thúc đẩy các doanh nghiệp phải thay đổi chiến lược sản xuất và tiêu thụ của mình. Việc áp dụng marketing xanh không chỉ mang lại lợi ích cho môi trường mà còn giúp doanh nghiệp nâng cao hình ảnh và giá trị thương hiệu trong mắt người tiêu dùng.

II. Tác động của marketing xanh đến hành vi tiêu dùng

Nghiên cứu cho thấy rằng marketing xanh có tác động tích cực đến hành vi tiêu dùng của người dân tại Hà Nội. Các chiến dịch như Less Plastic đã giúp nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về tầm quan trọng của việc giảm thiểu rác thải nhựa. Người tiêu dùng ngày càng có xu hướng lựa chọn các sản phẩm thân thiện với môi trường, điều này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn thể hiện trách nhiệm xã hội của họ. Theo Chammaro và cộng sự (2009), việc áp dụng marketing xanh đã giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường và khuyến khích người tiêu dùng chuyển sang sử dụng các sản phẩm xanh. Điều này cho thấy rằng marketing xanh không chỉ là một xu hướng mà còn là một yêu cầu cần thiết trong bối cảnh hiện nay.

2.1 Hành vi tiêu dùng xanh

Hành vi tiêu dùng xanh đang trở thành một xu hướng nổi bật trong xã hội hiện đại. Người tiêu dùng ngày càng nhận thức rõ hơn về tác động của sản phẩm đến môi trường và sẵn sàng thay đổi thói quen tiêu dùng của mình. Theo Yadav & Pathak (2016), hành vi tiêu dùng xanh không chỉ đơn thuần là việc lựa chọn sản phẩm mà còn liên quan đến thái độ và nhận thức của người tiêu dùng về môi trường. Các chiến dịch như Less Plastic đã thành công trong việc thay đổi nhận thức của người tiêu dùng, khuyến khích họ lựa chọn các sản phẩm không chứa nhựa hoặc có thể tái chế. Điều này không chỉ giúp giảm thiểu rác thải nhựa mà còn góp phần vào việc bảo vệ môi trường sống của chúng ta.

III. Chiến dịch Less Plastic tại Hà Nội

Chiến dịch Less Plastic đã được triển khai tại Hà Nội với mục tiêu giảm thiểu rác thải nhựa và nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về việc sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường. Chiến dịch này không chỉ thu hút sự quan tâm của người tiêu dùng mà còn nhận được sự hỗ trợ từ các doanh nghiệp và tổ chức xã hội. Theo Nguyễn Hoàng Quang Tuệ và cộng sự (2019), chiến dịch đã giúp người tiêu dùng nhận thức rõ hơn về tác động của rác thải nhựa đến môi trường và khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường. Điều này cho thấy rằng marketing xanh có thể tạo ra những thay đổi tích cực trong hành vi tiêu dùng và góp phần vào việc bảo vệ môi trường.

3.1 Đặc điểm của chiến dịch

Chiến dịch Less Plastic được thiết kế với nhiều hoạt động phong phú nhằm thu hút sự chú ý của cộng đồng. Các hoạt động bao gồm hội thảo, buổi tọa đàm và các chương trình truyền thông nhằm nâng cao nhận thức về tác động của rác thải nhựa. Theo Chen (2010), việc tổ chức các hoạt động này không chỉ giúp người tiêu dùng hiểu rõ hơn về vấn đề môi trường mà còn khuyến khích họ tham gia vào các hành động cụ thể để giảm thiểu rác thải nhựa. Chiến dịch đã thành công trong việc tạo ra một phong trào mạnh mẽ trong cộng đồng, khuyến khích mọi người cùng nhau hành động vì một môi trường xanh hơn.

10/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TONG QUAN VE MARKETING XANH 1. Marketing xanh và các khái niệm liên quan 1. Khái niệm marketing xanh Khái niệm marketing xanh phát triển từ những năm 1960 đến đầu những năm 1970 do những lo ngại về tác động của các mô hình sản xuất và tiêu dùng đối với môi trường (Konar & Cohen, 2001).

Tuy nhiên, từ cuối những năm 1980, marketing xanh đã nhận được sự chú ý đáng ké khi chủ nghĩa tiêu dùng xanh gia tăng (Mishra & Sharma, 2010). Marketing xanh bao gồm một loạt các hoạt động vượt ra ngoài nhu cầu hiện tại của khách hàng, có tính đến lợi ích của công chúng trong việc bảo vệ môi trường. Soonthonsmai (2007) định nghĩa marketing xanh là “các hành động được thực hiện bởi các tô chức quan tâm đến môi trường sinh thái hoặc các vấn đề xanh bằng cách cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ thân thiện với môi trường dé mang lại sự hài lòng cho khách hàng và cộng đồng”. Rahman và cộng sự (2012) mô tả marketing xanh là hoạt động kinh doanh với động cơ giảm thiêu chat thải thông qua các sản phẩm thân thiện với môi trường, tiết kiệm năng lượng và khuyến khích sức khỏe môi trường và tính bền vững của xã hội.

Cùng với đó, marketing xanh được xem là những cố gắng của đơn vị trong hoạt động sản xuất, xúc tiễn, đóng gói và cải tiến sản phẩm có trách nhiệm với môi trường (American Marketing Association, 1995). Nhu vậy marketing xanh với mục tiêu đảm bảo giá trị môi trường, sự cam kết và quan tâm đến nguồn lực tự nhiên (Kumar, 2013). Hoạt động marketing không chỉ dành riêng cho phòng marketing mà phải kết hợp với những phòng chức năng khác như chất lượng, thiết kế, sản xuất và cung ứng (Eneizan et al. Marketing xanh bao gồm chuỗi các hoạt động: cải tiến sản phẩm, quá trình sản xuất, làm mới bao bì, sử dụng quảng cáo mới (Polonsky, 1994).

Do đó, marketing xanh kết hợp một loạt các hoạt động, bao gồm sửa đôi sản phẩm, thay đổi quy trình sản xuất, thay đôi bao bì, cũng như sửa đổi quảng cáo. Tuy nhiên, xác định marketing xanh không phải là một nhiệm vụ đơn giản. Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (AMA) đã tô chức hội thảo đầu tiên với tên gọi “marketing sinh thái” (Ecolegical Marketing). Quá trình tiến hành hội thảo này đã dan dén một trong những cuôn sách đâu tiên vê marketing xanh mang tên 14 “Marketing sinh thái” [Henion và Kinnear 1976a].

Lúc đầu nó chỉ được hiểu theo khía cạnh bán hàng, vì vậy marketing xanh chỉ được định nghĩa là “hoạt động marketing các sản phẩm được xem là an toàn cho môi trường”. Sau đó, AMA có bổ sung thêm góc độ xã hội, marketing xanh còn là “phát triển và marketing các sản phẩm được thiết kế dé giảm thiêu tác động tiêu cực đến môi trường vật lý hoặc nâng cao chất lượng của nó”, và từ góc độ môi trường thì marketing xanh là “những nỗ lực của các tổ chức sản xuất, quảng bá, đóng gói và thu hồi lại các sản phẩm một cách chú trọng và quan tâm tới môi trường”. Vì vậy, marketing xanh nên xem xét giảm thiểu tác hại môi trường chứ không nhất thiết phải loại bỏ nó. Song song với đó những thông điệp trong marketing xanh phải hiệu quả, năm bắt được cơ hội, thấu hiểu các khách hàng, trao cơ hội cho họ, giảm áp lực về chất lượng và xem xét đến mức giá phù hợp (Ottman, 2008).

Như vậy, qua phân tích các lý thuyết nêu trên có thể thấy marketing xanh hiện nay có xu hướng tập trung vào tất cả các hoạt động marketing hiện nay của DN theo hướng phát triển bền vững, tăng cường quan hệ xã hội, khai thác giá tri khách hàng một cách lâu dài. Marketing xanh hỗn hợp Marketing hỗn hợp truyền thống bao gồm bốn yếu tổ (4Ps) đó là sản phẩm, giá cả, phân phối và chiêu thị. Trong marketing hỗn hợp (green marketing mix), yếu tố bảo vệ môi trường được thêm vào, “yếu tố xanh” cần được xem xét một cách thận trọng vì nó có liên quan chặt chẽ đến sự thành công hay thất bại của việc tiếp thị sản phẩm. Theo Wang (2012), những yếu tố cần được xem xét khi tham gia vào chiến lược Marketing xanh như: (1) Sản phẩm: Trong chiến lược sản phẩm, khi các DN sản xuất các sản phẩm, lựa chọn vật liệu thân thiện với môi trường nên thêm vào các chức năng cơ bản của sản phẩm.

Vẻ bề ngoài, kích thước và sức chứa cũng cần phải có một thiết kế thân thiện với môi trường, gia tăng thái độ khách hàng hướng tới, phải tăng sự hiểu biết của khách hàng về sản phẩm, và tăng giá trị cốt lõi của sản phẩm. Bằng cách này, các mục tiêu như là thỏa mãn nhu cầu khách hàng và nâng cao chất lượng môi trường sẽ cùng lúc đạt được. 15 (2) Giá: Sản phâm môi trường xanh thường tương đối “đắt” và thuyết phục người tiêu dùng chỉ trả nhiều tiền hon dé mua một sản phâm mới là không dễ dàng. Nếu chi phí sản xuất có thé hạ xuống hoặc giá trị sản phẩm cốt lõi tăng lên, điều đó sẽ cung cấp cho các sản phẩm xanh năng lực cạnh tranh trên thị trường.

(3) Phân phối: Khi các sản phẩm xanh hay dịch vụ được chuyên giao cho người tiêu dùng, các nhà marketing không nên chỉ xem xét đặc tính sản phẩm, đặc tính người tiêu dùng, các yếu tổ thị trường mà còn lựa chọn đúng thành viên kênh, thiết lập được kênh bán hàng. (4) Truyền thông: Khi một DN giới thiệu một sản phẩm mới thì nên tập trung quảng cáo xanh như việc gửi thông điệp đến người tiêu dùng về các khái niệm về bảo vệ môi trường. Người tiêu dùng cũng nên được thông báo về sự đóng góp của DN đối với môi trường. Ngoài việc quảng cáo, những công cụ truyền thông khác như phan thưởng, hoạt động x6 số và phiếu giảm giá cũng nên là một phan của chiến lược quảng cáo như một phương tiện thu hút người tiêu dùng mua các sản phẩm TTVNT.

Marketing xanh hỗn hợp ngoài 4 thành phần ban đầu dựa chủ yếu vào 4Ps của marketing truyền thống còn có thành phần luật pháp và các biện pháp khuyến khích liên quan, vì ông cho rằng sản phẩm xanh là một sản phẩm hiện tại cần có chiến lược của DN phối hợp tuyên truyền giữa chính phủ và DN dé kích thích hành vi mua các sản phâm xanh của người tiêu dùng. Còn theo Peattie (1995), có hai loại yếu tố Marketing xanh hỗn hợp: các yếu tố nội bộ kiểm soát được và các yêu tố bên ngoài không kiểm soát được. Các yếu tố nội bộ bao gồm các yếu tố marketing truyền thống, và thêm vào 4 yếu tố khác nữa (gọi là mô hình 8Ps) bao gôm: (1) Sản phẩm (Product): cần an toàn trong sử dụng và vút bỏ, đặc điểm yếu tô này được sử dụng trong các sản phâm và đóng gói bao bì của nó. (2) Giá (Price): giá nên được thay đổi dé phản ánh chi phí sản xuất và nhu câu của sản phâm xanh.

(3) Phân phối (Place): việc phân phối, vận chuyên nguồn hàng xanh một cách liên tục sẽ mang lại hiệu quả cho DN và xã hội. Ngoài ra, cần tối ưu hóa hệ thống phân phối để giảm chi phí vận chuyền và đóng gói. 16 (4) Truyền thông marketing (Promotion): cách mà thông điệp được sử dụng trong chiêu thị xanh; tính chính xác của tuyên bố xanh cần phải được kiểm tra. (5) Cung cấp thông tin (Providing information): giám sát tất cả các vấn đề liên quan đến môi trường và có thể kích thích những ý tưởng mới trong marketing.

(6) Quá trình (Process): tiêu thụ năng lượng và phát sinh chất thải. (7) Chính sách (Policies): đưa ra các chính sách khuyến khích, giám sát, đánh giá và kiểm soát hoạt động môi trường của DN. (8) Con người (People): con người là nhân tố quyết định trong kết quả kinh doanh của DN liên quan đến các vấn đề bảo vệ môi trường và đảm nhận vai trò chủ chốt của DN trong quá trình xanh. 'Yêu tô bên ngoài bao gôm khách hang, nhà cung cap, các chính tri gia, các nhóm áp lực, vân đê, dự đoán và các đôi tác.

Sản phầm xanh Nghiên cứu của Chen và cộng sự (2001) đã chỉ ra rằng những sản phẩm được thiết kế dé giảm thiếu việc sử dụng tài nguyên không tái tạo, tránh các vật liệu độc hại và tài nguyên có thể tái tạo trong toàn bộ vòng đời của nó sẽ là cách hiệu quả nhất dé hién thi sự phát triển công nghệ xanh. Với Simon (1992) thì các sản phẩm được sản xuất với số lượng nguyên liệu đầu vào giảm đi, vật liệu tái chế cao, vật liệu không độc hại, không liên quan đến thử nghiệm động vật, không ảnh hưởng xấu đến các loài vật, đòi hỏi ít năng lượng trong quá trình sản xuất, sử dụng, có rất ít hoặc không có bao bì là các sản phẩm xanh. Peattie (1995) lại cho rằng bất kỳ dịch vụ hoặc sản phẩm nào đó tốt hơn đáng ké so với các sản phẩm truyền thống hoặc nhãn hiệu cạnh tranh mà sản phẩm đó đóng góp vào việc bảo vệ môi trường và nâng cao chat lượng xã hội có thé được xem là một sản phâm xanh. So với các sản phẩm khác, sản phẩm xanh là sản phẩm có thé tái chế, có tuổi thọ lâu dài và hiệu quả cao.

Bên cạnh đó, nó đem lại tác hại ít hơn cho nhân loại và cung cấp nhiều cơ hội phát triển dài hạn từ góc độ kinh tế và xã hội. Có thé nói sản phâm xanh là những sản phẩm TTVMT. Tuy nhiên không có sản phẩm nào TTVMT một cách tuyệt đối mà chỉ tồn tại những sản phẩm có tính chat bảo vệ môi trường một cách tương đối. Mỗi vùng lãnh thé, từng khu vực 17 riêng trên thế giới sẽ có những tiêu chuẩn khác nhau dé đánh giá tinh thân thiện với môi trường của một sản phẩm vì thế khái niệm sản phẩm TTVMT chỉ có thể mang tính chất tương đối mà thôi.

Vậy, một sản phẩm được xem là sản phẩm TTVMT sẽ đáp ứng được một trong 4 tiêu chí sau đây: (1) Sản phâm được tạo ra từ các vật liệu thân thiện với môi trường. Nêu sản phâm được sản xuât từ các vật liệu có thê tái chê thay vì sử dụng vật liệu mới, thô, nó có thê được xem là một sản phâm xanh. Ví dụ, một sản phâm tái chê nhanh như ống hút làm từ bã mía. (2) Sản phẩm đem đến những giải pháp an toàn đến môi trường và sức khỏe thay cho các sản phẩm độc hại truyền thống.

Ví dụ như các sản phẩm hộp đựng bang giấy an toàn thay cho các hộp đựng bằng xốp. Như các loại chai thủy tinh có thé sử dụng nhiều lần, dé dàng tái ché.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Tác động của marketing xanh đến hành vi tiêu dùng tại Hà Nội: Nghiên cứu chiến dịch Less Plastic" khám phá cách mà marketing xanh ảnh hưởng đến thói quen tiêu dùng của người dân Hà Nội, đặc biệt là trong bối cảnh chiến dịch giảm thiểu nhựa. Tác giả chỉ ra rằng việc áp dụng các chiến lược marketing bền vững không chỉ giúp nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường mà còn thúc đẩy hành vi tiêu dùng tích cực hơn từ phía khách hàng. Bài viết cung cấp cái nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa marketing xanh và sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng, từ đó giúp độc giả hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc lựa chọn sản phẩm thân thiện với môi trường.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sắm bền vững, hãy tham khảo bài viết Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tiêu dùng sản phẩm thời trang bền vững trên địa bàn hà nội. Ngoài ra, để có cái nhìn tổng quát hơn về tác động của marketing online đến hành vi tiêu dùng, bạn có thể đọc bài viết Tiểu luận đề tài sự ảnh hưởng của marketing online tới ý định mua sản phẩm của khách hàng tại tp hcm. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm thực phẩm và đồ uống có bao bì thân thiện môi trường sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng trong lĩnh vực thực phẩm và đồ uống. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về marketing và hành vi tiêu dùng bền vững.