Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tống quan tài liệu 1. Các nghiên cứu trên thế giới So và cộng sự (2021) đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định quản lý rác thải nhựa (PWM) của người dân Hồng Kông. Dữ liệu được thu thập từ 966 người dân Hồng Kông thông qua khảo sát trực tiếp bằng bảng câu hỏi được dựa trên Lý thuyết hành vi dự định TPB mở rộng.
Sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM), nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố bao gồm: 1) Thái độ đối với hành vi PWM, (2) Chuẩn chủ quan liên quan đến PWM, (3) Nhận thức kiểm soát hành vi trong PWM và (4) Các yếu tổ tình huống liên quan đến PWM có ảnh hưởng đến ý định quản lý rác thải nhựa của người dân Hồng Kông. Nghiên cứu đã chỉ ra sự cần thiết của việc triển khai các chương trình giáo duc môi trường nhằm giảm thiêu rác thải nhựa trong giáo dục đại học, từ đó tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường việc quản lý rác thải nhựa của người dân Hồng Kông trong tương lai. Theo Van và cộng sự (2021), Malaysia đứng thứ 8 trong số 20 quốc gia quản lý kém rác thải nhựa, nguyên nhân là do việc gia tăng tiêu thụ đồ nhựa dùng một lần của cá nhân. Từ đó, tác gia đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định giảm thiểu nhựa sử dụng một lần của người dân.
Nghiên cứu đã khảo sát 341 cư dân ở Batu Pahat Johor với bảng câu hỏi khảo sát dựa trên lý Lý thuyết hành vi dự định (TPB). Dữ liệu được phân tích bằng phân tích hồi quy thông qua phần mềm SPSS. Kết qua cho thấy các yếu té (1) Thái độ đối với việc giảm thiểu nhựa sử dụng một lần, (2) Áp lực xã hội và (3), Kiểm soát hành vi nhận thức có tác động đến ý định hành vi giảm thiểu nhựa sử dụng một lần của người dân. Hameed và cộng sự (2021) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng bền vững liên quan đến tái chế chất thải nhựa tại Pakistan.
Nghiên cứu đã sử dụng lý Lý thuyết hành vi dự định (TPB) và lý thuyết ảnh hưởng xã hội (SIT) để thảo luận về các yếu tố có thể dẫn đến việc thu gom rác thải nhựa trong nước. Trong nghiên cứu này, dữ liệu từ khảo sát 353 người dân tại thành phố Karachi, Pakistan đã được phân tích bằng mô hình cấu trúc bình phương nhỏ nhất từng phần (PLS- SEM). Kết qua cho thấy, các nhân tố (1) Thái độ của người tiêu dùng, (2) Chuẩn chủ quan, (3) Kiểm soát hành vi nhận thức và (4) Ảnh hưởng chuẩn mực xã hội có ảnh hưởng đến đến ý định tái chế chất thải nhựa. Nghiên cứu của Nabila và cộng sự (2020) đã xác định các yếu tô của hành vi trong việc giảm thiểu sử dụng túi ni lông ở Indonesia bằng cách sử dụng lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB).
Tác giả đã thu thập dữ liệu từ 250 người dân Indonesia bằng cách phỏng vấn trực tiếp và sử dụng Google Form được phân phối bằng phương tiện truyền thong Whatsapp. Mô hình cau trúc bình phương nhỏ nhất từng phần (PLS-SEM) và hồi quy tuyến tính đã được sử dụng. Kết quả cho thấy các yêu tô (1) Thái độ, (2) Chuẩn chủ quan, (3) Nhận thức kiểm soát hành vi, (4) Chuan mực cá nhân, (5) Nhận thức về hậu quả và (6) Ý định có ảnh hưởng đến hành vi của người dân trong việc giảm thiéu sử dụng túi ni lông ở Indonesia. Hasan và cộng sự (2015) đã nghiên cứu các yếu các yếu tô ảnh hưởng đến ý định hành vi của sinh viên trường Đại học Putra, Malaysia trong việc giảm tiêu thụ nhựa.
Nghiên cứu đã vận dụng lý Lý thuyết hành vi dự định TPB nhằm xác định các nhân tố trong mô hình. Tác giả đã tiến hành khảo sát 393 sinh viên trường Đại học Putra thông qua bảng câu hỏi soạn sẵn. Các phương pháp phân tích số liệu được sử dụng bao gồm: Thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha, kiểm định t-test và phân tích hồi hồi quy. Kết quả cho thấy (1) Nhận thức kiểm soát hành vi, (2) Chuẩn chủ quan và (3) Thái độ các ảnh hưởng đến ý định giảm tiêu thụ nhựa của sinh viên trường Đại học Putra, Malaysia.
Bên cạnh đó, kết qua t-test cho thấy trình độ dao tạo (sinh viên chưa tốt nghiệp và sinh viên đã tốt nghiệp) và ngành học (khoa học tự nhiên và khoa học xã hội) không ảnh hưởng đến ý định giảm tiêu thụ nhựa. Trong khi đó, kết quả cũng cho thấy sinh viên nữ có xu hướng giảm tiêu thụ nhựa. Từ đó, các giải pháp về giáo dục và tuyên truyền đã được đề xuất nhằm giảm thiểu sử dụng nhựa trong sinh viên trường Đại học Putra, Malaysia. Yadaw và Pathak (2016) nghiên cứu tìm hiểu ý định mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng trẻ tại An Độ.
Nghiên cứu sử dụng lý thuyết hành vi dự định (TPB) làm khung lý thuyết và mở rộng bang cách kết hợp các nhân tố bé sung (mối quan tâm về môi trường và kiến thức về môi trường). Dữ liệu được thu thập bằng bảng câu hỏi khảo sát và được phân tích bằng mô hình phương trình cấu trúc tuyến tính (SEM). Kết quả là tất cả các biến quan sát của mô hình ban đầu đều có ảnh hưởng trực tiếp đến ý định mua sản phẩm xanh tại Ấn Độ. Trong đó, sự quan tâm đến môi trường ảnh hưởng mạnh nhất, trái ngược hoàn toàn với kiến thức về môi trường ít ảnh hưởng nhất.
Michele và cộng sự (2004) sử dụng lý thuyết hành vi dự định để khảo sát các yếu tố quyết định hành vi tái chế tại Vương quốc Anh. Các mục tiêu tái chế hộ gia đình đặt ra một thách thức nghiêm trọng đối với chính quyền địa phương tại Anh. Chìa khóa để đạt được các mục tiêu này là sự tham gia của các hộ gia đình trong các chương trình quan lý và tái chế chat thải. Tuy nhiên dé các kế hoạch này thành công, phải dựa trên sự hiểu biết thấu đáo về thái độ của các hộ gia đình đối với việc tái chế và nhận thức của họ về các rào cản đối với việc tái chế.
Lý thuyết hành vi dự định cung cấp khung lý thuyết để xác định một cách có hệ thống các yếu tố quyết định hành vi tái chế, được sử dụng làm cơ sở cho một nghiên cứu về 191 người tham gia trong kế hoạch tái chế tại địa phương. Các phát hiện cho thấy rằng thái độ ủng hộ tái chế là yếu tố chính góp phần vào hành vi tái chế và những thái độ này bị ảnh hưởng trước hết bởi việc có các cơ hội, phương tiện và kiến thức thích hợp để tái chế, thứ hai là do không bị cản trở bởi các vấn đề về tái chế vật lý (ví dụ: về thời gian, không gian và sự bất tiện). Kinh nghiệm tái chế trước đây, mối quan tâm đối với cộng đồng và hậu quả của việc tái chế cũng là những yếu tố dự đoán quan trọng về hành vi tái chê. Sheng và cộng sự (2018) nghiên cứu tích hợp quan điểm đạo đức và lý thuyết hành vị dự định đề trình bày mô hình giải thích ý định “mang theo túi mua sam của riêng bạn” (BYOB) với mua sắm hàng hóa.
Mô hình đề xuất được kiểm chứng thực nghiệm ở Đài Loan. Dựa trên một cuộc khảo sát với 601 người được hỏi, các phát hiện cho thấy rằng đánh giá nghĩa vụ của người tiêu dùng có liên quan tích cực đến thái độ, chuẩn mực chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức của họ, trong khi đánh giá mục đích luận chỉ liên quan tích cực đến kiểm soát hành vi nhận thức. Ngoài ra, kết quả cũng chỉ ra rằng thái độ và kiểm soát hành vi nhận thức của người tiêu dùng có mối quan hệ tích cực với ý định BYOB, trong khi chuẩn chủ quan không có mối quan hệ có ý nghĩa với ý định BYOB. Tóm lại, nghiên cứu này đóng góp bằng cách cung cấp những hiểu biết sâu sắc về việc áp dụng đạo đức chung và lý thuyết hành vi dự định để giải thích hành vi BYOB của người tiêu dùng.
Các nghiên cứu trong nước Nghiên cứu của Lê Chí Công và Hoàng Thị Thu Phương (2021) đã xác định ảnh hưởng của rủi ro cảm nhận đến ý định hành vi giảm thiểu sử dụng đồ nhựa của cộng đồng dân cư ven biển Nha Trang. Nghiên cứu đã phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi đã được thiết kế sẵn với 146 hộ dân sinh sống ven biển tại Nha Trang từ tháng 5/2020 đến tháng 7/2020. Dựa trên Lý thuyết cảm nhận rủi ro TPR, các kiểm định giá trị Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tô khám phá (EFA) và phân tích hồi quy tuyến tính đã xác định rang ba nhân tố rủi ro cảm nhận (tâm lý, sức khoẻ, va tài chính) đều có ảnh hưởng dương đến ý định hành vi giảm thiểu sử dụng đồ nhựa của cộng đồng ngư dân này. Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề xuất một số kiến nghị chính sách nhằm giảm thiểu sử dụng đồ nhựa của cộng đồng dân cư ven biển Nha Trang, góp phan bảo vệ môi trường và hướng đến phát triển thành phố bền vững.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bảo Dung và Nguyễn Thị Cúc (2021) đã xác định các yếu tố đến ý định giảm sử dụng túi nylon của người dân ở thành phố Đà Lạt. Trên cơ sở khảo sát 350 người dân sinh sống tại địa bàn thành phố Đà Lạt và dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20. Kết quả mô hình hồi quy tuyến tính cho thấy, cả yếu tố (1) thái độ, (2) nhận thức kiểm soát hành vi, (3) chuẩn chủ quan, (4) nhận thức tác hại của túi nylon đến môi trường, (5) nhận thức tac hai của túi nylon đối với sức khỏe có ảnh hưởng đến ý định giảm sử dụng túi nylon. Trong đó, nhận thức tác hại của túi nylon đến môi trường là biến ảnh hưởng mạnh nhất.
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng nhận thấy rằng thái độ của người dân chưa thật sự tích cực đối với việc giảm sử dụng túi nylon. Lê Chí Công (2020) đã áp dụng lý Lý thuyết hành vi dự định TPB và lý thuyết giá trị kỳ vọng nhằm nghiên cứu ý định giảm thiểu sử dụng và xả thải túi nhựa của cộng đồng dân cư ven biển tại Vịnh Nha Trang. Tác gia đã điều tra 222 cư dân ven biển tại Vịnh Nha Trang.