Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tại Việt Nam mang lại nhiều chuyển biến tích cực về kinh tế, hạ tầng và đời sống xã hội; tuy nhiên, xu hướng dịch chuyển các cơ sở sản xuất, khu công nghiệp về nông thôn cùng sự gia tăng dân số đã và đang tạo ra áp lực nặng nề lên chất lượng môi trường sống. Ô nhiễm môi trường khu vực nông thôn đang diễn biến phức tạp với khối lượng chất thải ngày càng tăng và thành phần phức tạp, trong khi hạ tầng kỹ thuật và năng lực xử lý chất thải còn rất nhiều hạn chế. Một trong những rào cản lớn đối với công tác bảo vệ môi trường bền vững tại cơ sở là nhận thức và hiểu biết của cộng đồng dân cư về tác hại của ô nhiễm cũng như trách nhiệm bảo vệ môi trường chưa cao.

Bản Qua là một xã vùng cao biên giới thuộc huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, có đường biên giới giáp Trung Quốc dài trên 10 km. Hoạt động kinh tế của người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp (chiếm 95% cơ cấu kinh tế), với sự cư trú tập trung của các đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó dân tộc Dáy chiếm 51,6% và dân tộc Dao chiếm 23%. Trong những năm gần đây, việc đẩy mạnh thâm canh nông nghiệp nhằm nâng cao thu nhập, kết hợp với tập quán sinh hoạt truyền thống, đã tạo ra sức ép đáng kể lên môi trường đất, nước và không khí. Tuy nhiên, nhận thức của người dân địa phương về bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế, công tác quản lý chất thải rắn và nước thải sinh hoạt chưa được đầu tư đồng bộ. Khóa luận tốt nghiệp "Đánh giá nhận thức về bảo vệ môi trường của người dân trên địa bàn xã Bản Qua - huyện Bát Xát - tỉnh Lào Cai" được tác giả Hoàng A Quỳnh thực hiện nhằm phân tích thực trạng này.

Mục tiêu tổng quát của đề tài là tìm hiểu nhận thức của người dân địa phương về các vấn đề môi trường, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiểu biết và trách nhiệm bảo vệ môi trường tại xã Bản Qua.

Nhiệm vụ nghiên cứu được phân chia thành 3 nội dung chính:

  1. Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên và hiện trạng kinh tế - xã hội tại địa bàn xã Bản Qua, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
  2. Đánh giá nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường trên địa bàn xã Bản Qua, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
  3. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường tại địa phương.
  • Đối tượng nghiên cứu: Người dân sinh sống tại địa bàn xã Bản Qua, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Bản Qua, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được triển khai thu thập số liệu thực địa từ ngày 16/8/2014 đến ngày 15/12/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận tiếp cận vấn đề bảo vệ môi trường nông thôn từ khung lý luận về vai trò của cộng đồng và các quy định pháp luật hiện hành của Nhà nước Việt Nam về trách nhiệm bảo vệ môi trường.

Về cơ sở lý luận, tác giả nhấn mạnh vai trò trung tâm của cộng đồng trong quản lý môi trường cơ sở. Cộng đồng là tập hợp dân cư gắn bó lâu dài, sở hữu tính đoàn kết, tri thức bản địa và là lực lượng giám sát môi trường trực tiếp, hiệu quả nhất tại địa phương. Sự tham gia của cộng đồng thể hiện ở việc đóng góp ý kiến, thực thi các quy chế, hương ước và vận hành các mô hình tự quản.

Về cơ sở pháp lý và tiêu chuẩn kỹ thuật, nghiên cứu viện dẫn:

  • Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014, trọng tâm là: Điều 81 (quy định về bảo vệ môi trường nơi công cộng); Điều 82 (yêu cầu bảo vệ môi trường đối với hộ gia đình); Điều 83 (quy định về tổ chức tự quản bảo vệ môi trường).
  • Quyết định số 34/TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình hành động bảo vệ môi trường.
  • Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nhà tiêu - điều kiện bảo đảm hợp vệ sinh (QCVN 01:2011/BYT ban hành ngày 24/6/2011).
  • Các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia: Công ước Vienna về bảo vệ tầng ôzôn (1994), Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ôzôn (1987), Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC, 1992).

Bên cạnh đó, tác giả điểm luận các công trình nghiên cứu thực nghiệm tiền đề về nhận thức môi trường tại Việt Nam, bao gồm: khảo sát nhu cầu sử dụng nước sạch tại thị trấn Thanh Nê (Thái Bình) của Trường Đại học Công đoàn; nghiên cứu nhận thức phân loại rác thải tại phường Phú Thọ (Bình Dương); khảo sát kiến thức pháp luật môi trường của chương trình SEMLA (Bộ Tài nguyên và Môi trường) tại Hà Giang, Nghệ An, Bà Rịa - Vũng Tàu; nghiên cứu kiến thức - thái độ - thực hành (KAP) về vệ sinh môi trường của Hoàng Thái Sơn tại huyện Phổ Yên (Thái Nguyên) với mẫu 400 người; kinh nghiệm truyền thông vệ sinh môi trường tại xã Thiện Thuật (Lạng Sơn).

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:

  • Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Thiết kế phiếu điều tra và thực hiện phỏng vấn trực tiếp ngẫu nhiên 100 người dân ($n = 100$) trên địa bàn xã Bản Qua, kết hợp quan sát thực địa hiện trạng vệ sinh, nguồn nước, cống rãnh và rác thải tại các hộ gia đình.
  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập các báo cáo, tài liệu thống kê về điều kiện tự nhiên (địa hình, khí hậu, tài nguyên đất, nước, rừng, khoáng sản) và hiện trạng kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế tại Ủy ban nhân dân xã Bản Qua.
  • Phương pháp thống kê và xử lý số liệu: Tổng hợp số liệu từ phiếu khảo sát, phân loại theo nhóm tiêu chí nhân khẩu và nhận thức, tính toán tỷ lệ phần trăm và biểu diễn qua bảng số liệu thống kê.

Nội dung chính theo từng phần và chương

Khóa luận được cấu trúc thành 5 phần chính theo định dạng văn bản học thuật:

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ tác động tiêu cực của quá trình phát triển kinh tế nông thôn đến chất lượng môi trường sống, chỉ rõ sự cần thiết phải nâng cao nhận thức cộng đồng tại một xã vùng cao như Bản Qua. Đồng thời, phần này xác định mục tiêu nghiên cứu, ý nghĩa khoa học (rèn luyện kỹ năng tổng hợp, phân tích số liệu thực địa) và ý nghĩa thực tiễn (đánh giá mức độ hiểu biết của người dân để đề xuất giải pháp xử lý các điểm nóng môi trường tại chỗ).

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết bức tranh môi trường toàn cầu với các vấn đề nổi cộm: biến đổi khí hậu, hiện tượng nóng lên toàn cầu (nhiệt độ tăng 0,5°C - 0,7°C), suy giảm tầng ôzôn tại Nam Cực và Bắc Cực, suy thoái tài nguyên rừng và đất, cạn kiệt năng lượng hóa thạch, ô nhiễm mở rộng và suy giảm đa dạng sinh học.

Đối với Việt Nam, tác giả hệ thống hóa 8 vấn đề môi trường bức bách được ưu tiên giải quyết: (1) Nguy cơ mất rừng và suy thoái tài nguyên rừng; (2) Suy thoái đất canh tác và xói mòn; (3) Suy thoái tài nguyên và môi trường biển; (4) Khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản, nước không hợp lý; (5) Ô nhiễm môi trường nước, không khí, đất; (6) Hậu quả lâu dài của chất độc hóa học dioxin sau chiến tranh; (7) Sức ép từ gia tăng dân số và mất cân bằng giới tính; (8) Sự thiếu hụt cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực ngành tài nguyên và môi trường. Đồng thời, chương này phân tích khung pháp lý về trách nhiệm cộng đồng và tổng thuật kết quả các khảo sát nhận thức môi trường đã công bố trong nước.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định cụ thể đối tượng khảo sát là người dân xã Bản Qua, phạm vi địa bàn nghiên cứu, khung thời gian từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2014. Chi tiết hóa quy trình lập bộ câu hỏi phỏng vấn cho 100 đối tượng, phương thức tiếp cận thực địa, nguồn tài liệu thứ cấp tại UBND xã và kỹ thuật thống kê mô tả số liệu.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Đây là chương nội dung chính, trình bày chi tiết hai hợp phần:

1. Đặc điểm chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và kinh tế - xã hội xã Bản Qua:

  • Vị trí và địa hình: Diện tích tự nhiên 5.367 ha. Địa hình phân hóa thành 2 vùng rõ rệt: vùng thấp gồm 12 thôn nằm dọc Tỉnh lộ 156 và ven sông Hồng (cao 100 - 250 m, chiếm 25% diện tích); vùng cao gồm 6 thôn nằm trên sườn dốc (cao 600 - 1000 m, chiếm 75% diện tích).
  • Khí hậu và thủy văn: Nhiệt độ trung bình 19 - 30°C, lượng mưa 1.400 - 1.600 mm/năm (80% lượng mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 8). Xã có 2 suối chính là suối Bản Qua và suối Bản Náng.
  • Tài nguyên: Đất nông nghiệp chiếm 3.767,29 ha (70,19% diện tích), đất lâm nghiệp chiếm 3.271,94 ha (độ che phủ rừng đạt trên 60%). Khoáng sản có mỏ sét ven sông Hồng và quặng apatit chưa khai thác.
  • Dân cư và kinh tế: Cơ cấu dân tộc gồm Dáy (51,6%), Dao (23%), Kinh (18,7%), Tày (5,1%), dân tộc khác (0,6%). Kinh tế phụ thuộc nặng vào nông lâm nghiệp (chiếm 95%), tiểu thủ công nghiệp chiếm 2,2%, thương mại - dịch vụ chiếm 2,8%.

2. Hiện trạng môi trường và nhận thức của người dân: Tác giả phản ánh hiện trạng môi trường thực tế tại xã Bản Qua qua các bảng thống kê điều tra 100 hộ dân:

Bảng 1: Hiện trạng sử dụng và chất lượng nguồn nước sinh hoạt ($n=100$)

Tiêu chí Phân loại Số lượng (hộ) Tỷ lệ (%)
Nguồn nước sinh hoạt Nước máy 0 0,0
Nước giếng 76 76,0
Nước suối khe 24 24,0
Cảm quan chất lượng nước Bình thường (không mùi, màu, vị) 78 78,0
Nước có mùi 9 9,0
Nước có màu sắc 7 7,0
Nước có vị khác thường 6 6,0

Về hạ tầng thoát nước thải, tỷ lệ hộ gia đình có cống thải kiên cố rất thấp; đa số xả thải trực tiếp vào môi trường xung quanh:

Bảng 2: Hiện trạng thoát nước thải và nơi tiếp nhận ($n=100$)

Tiêu chí Hình thức / Nơi tiếp nhận Số lượng (hộ) Tỷ lệ (%)
Loại cống thải sinh hoạt Cống thải có nắp đậy 4 4,0
Cống thải lộ thiên 32 32,0
Không có cống thải 59 59,0
Loại khác 5 5,0
Nguồn tiếp nhận nước thải Để ngấm tự nhiên xuống đất 63 63,0
Xả ra ao, hồ, mương, suối 31 31,0
Xả vào bể chứa riêng 4 4,0
Nơi khác 2 2,0
Cống thải chung của xã 0 0,0

Bảng 3: Hiện trạng thu gom rác thải và công trình vệ sinh ($n=100$)

Tiêu chí Phân loại Số lượng (hộ) Tỷ lệ (%)
Hình thức đổ rác thải sinh hoạt Đổ rác tùy nơi (bừa bãi) 77 77,0
Đào hố rác riêng (tự đốt/chôn) 23 23,0
Đổ tại bãi rác tập trung 0 0,0
Thu gom theo hợp đồng dịch vụ 0 0,0
Kiểu công trình nhà vệ sinh Nhà vệ sinh đất 54 54,0
Hoàn toàn không có nhà vệ sinh 21 21,0
Nhà vệ sinh tự hoại (hợp vệ sinh) 13 13,0
Nhà vệ sinh hai ngăn 8 8,0
Loại khác 4 4,0
Nơi tiếp nhận nước thải vệ sinh Ngấm trực tiếp xuống đất 53 53,0
Thải ra sông, suối tự nhiên 34 34,0
Lưu chứa trong bể tự hoại 13 13,0

Về nhận thức, kết quả phỏng vấn ghi nhận sự phân hóa rõ rệt theo trình độ học vấn. Đa số người dân chỉ hiểu khái niệm "môi trường", "ô nhiễm môi trường" và "bảo vệ môi trường" ở mức cảm tính; các câu trả lời chính xác, đầy đủ chỉ xuất hiện ở nhóm người có học vấn từ trung học phổ thông trở lên. Người dân đã biết tận dụng rác hữu cơ và phụ phẩm nông nghiệp (cơm thừa, rơm rạ) làm thức ăn gia súc, nhưng chất thải khó phân hủy như túi nilon, bao bì thuốc bảo vệ thực vật phần lớn vẫn bị vứt tùy tiện hoặc đốt lộ thiên.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết toàn bộ các phát hiện nghiên cứu về thực trạng ô nhiễm, hạ tầng vệ sinh nông thôn nghèo nàn và nhận thức pháp luật môi trường còn hạn chế của người dân xã Bản Qua; đồng thời đưa ra các đề xuất về quản lý và đầu tư hạ tầng cho chính quyền địa phương.

Kết quả và đóng góp của khóa luận

Kết quả chính

  • Khảo sát hạ tầng cấp nước và xử lý nước thải: 100% người dân khảo sát không có nước máy; phụ thuộc hoàn toàn vào nước giếng (76%) và nước khe suối (24%). Đáng chú ý, có 22% hộ gia đình nhận thấy nước sinh hoạt có biểu hiện bất thường về mùi, màu hoặc vị. Hệ thống thoát nước thải sinh hoạt gần như chưa được đầu tư: 91% hộ gia đình không có cống hoặc dùng cống lộ thiên; 94% tổng lượng nước thải sinh hoạt để ngấm tự nhiên xuống đất (63%) hoặc xả thẳng ra sông suối, mương rãnh (31%).
  • Khảo sát chất thải rắn: Địa bàn xã hoàn toàn chưa có bãi tập kết rác thải tập trung và chưa có đơn vị dịch vụ thu gom chất thải. 77% hộ dân chọn hình thức đổ rác tùy tiện ra môi trường xung quanh; 23% hộ xử lý bằng hố rác tự đào tại vườn để chôn lấp hoặc đốt thủ công.
  • Khảo sát công trình vệ sinh: Tỷ lệ hộ có nhà vệ sinh đạt quy chuẩn vệ sinh quốc gia (QCVN 01:2011/BYT) chỉ đạt 13% (nhà vệ sinh tự hoại). Còn lại 87% là công trình không hợp vệ sinh, bao gồm 54% dùng hố tiêu đất, 8% hố tiêu hai ngăn và 21% hộ không có nhà tiêu. Có tới 87% lượng nước thải vệ sinh được xả thẳng ra sông suối (34%) hoặc để ngấm trực tiếp vào đất (53%), gây nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm tầng nông.
  • Đánh giá mức độ nhận thức: Hiểu biết về các quy định pháp luật (Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014) còn rất mơ hồ. Khái niệm phân loại chất thải tại nguồn chưa được thực hiện đúng quy cách kỹ thuật, việc tái chế mới chỉ mang tính tự phát đối với thức ăn thừa dùng cho chăn nuôi.

Các giải pháp do tác giả đề xuất

  1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật môi trường thông qua các tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên) và lồng ghép nội dung vào các buổi sinh hoạt thôn bản.
  2. Chính quyền địa phương cần quy hoạch bãi rác thải tập trung cho xã và thành lập các tổ thu gom rác tự quản tại các thôn dọc trục Tỉnh lộ 156.
  3. Hỗ trợ kinh phí, kỹ thuật giúp các hộ gia đình nghèo xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh (tự hoại hoặc thấm dội nước) và hệ thống cống rãnh thoát nước có nắp đậy trong khu dân cư.
  4. Xây dựng hương ước, quy ước thôn bản về bảo vệ môi trường, gắn trách nhiệm giữ gìn vệ sinh chung vào tiêu chí bình xét gia đình văn hóa.

Đóng góp của khóa luận

Khóa luận đã cung cấp một bộ dữ liệu điều tra sơ cấp thực tế về hạ tầng kỹ thuật môi trường và nhận thức sinh hoạt của người dân tại xã Bản Qua năm 2014. Công trình làm rõ mối liên hệ giữa điều kiện kinh tế khó khăn, tập quán canh tác truyền thống với các hành vi phát thải gây ô nhiễm môi trường tại một xã miền núi biên giới phía Bắc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:

    • Quy mô mẫu khảo sát giới hạn ở 100 phiếu điều tra ($n = 100$) trên một địa bàn rộng gồm 18 thôn bản phân bố ở cả địa hình vùng thấp và vùng cao, do đó tính đại diện thống kê chi tiết cho từng nhóm dân tộc thiểu số chưa thực sự đồng đều.
    • Phương pháp phân tích dữ liệu dừng lại ở mức thống kê mô tả tần số và tính tỷ lệ phần trăm đơn giản; chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng hoặc phân tích hồi quy tương quan để lượng hóa mức độ ảnh hưởng của thu nhập, học vấn và thành phần dân tộc đến hành vi bảo vệ môi trường.
    • Nghiên cứu chưa lấy mẫu phân tích trong phòng thí nghiệm đối với chất lượng nước giếng, nước mặt hay đất để đối chứng với đánh giá cảm quan của người dân.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:

    • Mở rộng phạm vi khảo sát ra toàn bộ các xã thuộc huyện Bát Xát với cỡ mẫu lớn hơn để so sánh sự khác biệt giữa các vùng sinh thái và các nhóm dân tộc.
    • Kết hợp đo đạc, phân tích các chỉ tiêu hóa - lý - vi sinh của nguồn nước và đất để đối chiếu chính xác giữa nhận thức chủ quan của người dân với mức độ ô nhiễm thực tế.
    • Nghiên cứu ứng dụng các mô hình xử lý chất thải chi phí thấp, công nghệ biogas quy mô hộ gia đình phù hợp với điều kiện kinh tế của đồng bào miền núi.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Phát triển Nông thôn; cán bộ địa chính - môi trường cấp xã và cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện miền núi.
  • Giá trị thực tiễn:
    • Tài liệu cung cấp mẫu câu hỏi điều tra hiện trạng cấp nước, xả thải và nhận thức môi trường nông thôn có thể tái sử dụng cho các nghiên cứu tương tự.
    • Cung cấp số liệu cơ sở phục vụ việc đánh giá thực hiện Tiêu chí số 17 (Tiêu chí Môi trường) trong Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Xây dựng Nông thôn mới tại xã Bản Qua và các xã có điều kiện tương đồng tại tỉnh Lào Cai.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ người dân xã Bản Qua được tiếp cận hệ thống nước sạch (nước máy) theo kết quả khảo sát là bao nhiêu?
Khảo sát 100 hộ dân ghi nhận 0% hộ gia đình sử dụng nước máy. Toàn bộ người dân phụ thuộc vào nguồn nước tự nhiên tại chỗ, gồm nước giếng (76%) và nước khe suối (24%).

2. Hạ tầng thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại xã Bản Qua năm 2014 ở mức độ nào?
Địa phương hoàn toàn chưa có bãi tập kết rác thải tập trung và chưa có dịch vụ thu gom rác theo hợp đồng. 77% số hộ vứt rác tùy tiện ra môi trường và 23% hộ tự đào hố chôn lấp hoặc đốt rác tại vườn nhà.

3. Tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh theo quy chuẩn quốc gia tại địa bàn nghiên cứu là bao nhiêu?
Chỉ có 13% số hộ được khảo sát có nhà vệ sinh tự hoại đạt chuẩn theo QCVN 01:2011/BYT. Phần còn lại là nhà vệ sinh đất (54%), nhà vệ sinh hai ngăn (8%) và có tới 21% số hộ hoàn toàn không có công trình vệ sinh.

4. Khóa luận căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật nào để làm rõ trách nhiệm của cộng đồng dân cư trong bảo vệ môi trường?
Tác giả căn cứ vào Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014, cụ thể là các quy định tại Điều 81 (môi trường nơi công cộng), Điều 82 (yêu cầu đối với hộ gia đình) và Điều 83 (tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường).

5. Cơ cấu kinh tế và thành phần dân tộc tại xã Bản Qua có đặc điểm gì nổi bật?
Nông lâm nghiệp chiếm ưu thế tuyệt đối với 95% cơ cấu kinh tế toàn xã. Về dân số, dân tộc Dáy chiếm đa số với 51,6%, tiếp theo là dân tộc Dao (23%), người Kinh (18,7%), người Tày (5,1%) và các dân tộc khác (0,6%).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng A Quỳnh đã phản ánh thực trạng nhận thức và hành vi bảo vệ môi trường của người dân tại xã vùng cao biên giới Bản Qua, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai giai đoạn cuối năm 2014. Kết quả điều tra thực nghiệm trên 100 hộ dân chỉ ra những thiếu hụt nghiêm trọng về cơ sở hạ tầng thiết yếu: chưa có hệ thống cấp nước máy, 91% hộ thiếu hệ thống cống rãnh hợp chuẩn, 77% hộ thải rác bừa bãi và chỉ 13% hộ có nhà tiêu đạt chuẩn vệ sinh. Mặc dù người dân đã có nhận thức ban đầu về giá trị của môi trường trong lành, sự hiểu biết về pháp luật môi trường và ý thức phân loại rác thải vẫn còn rất hạn chế do rào cản về kinh tế và trình độ dân trí. Các giải pháp quy hoạch bãi rác, hỗ trợ xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh và đẩy mạnh tuyên truyền cộng đồng được đề xuất là căn cứ thực tiễn quan trọng cho công tác quản lý tài nguyên và môi trường tại địa phương.