Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng ô nhiễm môi trường tại các đô thị lớn ở Việt Nam đang diễn biến ngày càng phức tạp dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa và gia tăng dân số cơ học. Báo cáo quan trắc giai đoạn 2000–2005 tại Hà Nội cho thấy hơn 90% lượng nước thải công nghiệp và dịch vụ xả trực tiếp ra môi trường mặt mà không qua xử lý, trong khi nồng độ bụi lơ lửng tại các trục giao thông chính vượt quy chuẩn cho phép từ 2,72 đến 4,8 lần. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật tập trung giải quyết mâu thuẫn cốt lõi giữa yêu cầu quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường và năng lực thực thi hạn chế tại cấp chính quyền cơ sở, nơi đang chịu áp lực giải quyết trên 70 đầu việc hành chính thường nhật nhưng hoàn toàn thiếu vắng cán bộ chuyên trách.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm là làm sáng tỏ cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường, đánh giá thực trạng áp dụng Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993 và Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 tại cấp phường, đồng thời phân tích cơ chế huy động sự tham gia của cộng đồng dân cư đô thị. Phạm vi không gian của đề tài bao quát 4 phường điển hình tại Hà Nội gồm Thượng Đình, Quỳnh Mai, Văn Chương và Ô Chợ Dừa trong khung thời gian từ khi ban hành văn bản pháp luật môi trường đầu tiên đến năm 2007. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học giúp hoàn thiện thể chế pháp lý, nâng cao tỷ lệ xử lý chất thải sinh hoạt đô thị và cải thiện chất lượng sống cho hơn 80.340 cư dân tại các địa bàn khảo sát.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng đồng thời hai khung lý thuyết nền tảng là Lý thuyết Thực hiện Pháp luật trong khoa học pháp lý xã hội chủ nghĩa và Lý thuyết Quản trị Môi trường dựa vào Cộng đồng (Community-Based Environmental Management). Theo lý luận nhà nước và pháp luật, quá trình hiện thực hóa quy phạm pháp luật môi trường được cấu thành từ 4 hình thức cơ bản: tuân thủ pháp luật (tự kiềm chế không thực hiện hành vi hủy hoại tự nhiên), chấp hành pháp luật (chủ động thực hiện các nghĩa vụ giữ gìn vệ sinh và nộp phí bảo vệ môi trường), sử dụng pháp luật (thực hiện quyền được sống trong môi trường trong lành và quyền khai thác tài nguyên hợp pháp), và áp dụng pháp luật (hoạt động mang tính quyền lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm kiểm tra, thanh tra và xử phạt vi phạm).

Mô hình nghiên cứu thiết lập mối quan hệ tác động qua lại giữa ba chủ thể chính: Nhà nước (ban hành chính sách, tổ chức thực thi và cưỡng chế), Doanh nghiệp/Cơ sở sản xuất kinh doanh (tuân thủ tiêu chuẩn xả thải và báo cáo đánh giá tác động môi trường), và Cộng đồng dân cư (chủ thể giám sát, trực tiếp thụ hưởng và thực hiện các quy ước tự quản). Hệ thống khái niệm trọng tâm bao gồm: khái niệm môi trường theo Điều 1 Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005; khái niệm ô nhiễm môi trường gắn liền với hai điều kiện cấu thành là sự biến đổi tính chất vật lý, hóa học, sinh học và sự vi phạm quy chuẩn kỹ thuật môi trường; khái niệm cộng đồng đô thị và khái niệm sự tham gia của cộng đồng thông qua các kênh trực tiếp hoặc đại diện gián tiếp.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu điển hình phi xác suất để khảo sát 4 phường đại diện cho các hình thái đô thị đặc trưng tại Hà Nội: phường Thượng Đình (khu vực công nghiệp tập trung với 17.938 nhân khẩu, 3.935 hộ), phường Quỳnh Mai (khu nhà ở tập thể công nhân dệt may với 13.000 dân, 3.050 hộ), phường Văn Chương (khu dân cư chuyển đổi từ làng xã cổ truyền với 17.482 dân, 4.206 hộ) và phường Ô Chợ Dừa (khu vực đô thị hóa hỗn hợp có 10% hộ nghèo và lao động nhập cư, quy mô 31.922 dân, 8.965 hộ). Tổng quy mô mẫu khảo sát đại diện cho quần thể gồm 80.342 cư dân và 20.156 hộ gia đình.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu kết hợp giữa dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo định kỳ của Cục Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, số liệu quan trắc khí thải, nước thải giai đoạn 1995–2006, cùng dữ liệu sơ cấp thu thập qua bảng hỏi xã hội học và phỏng vấn sâu lãnh đạo Ủy ban nhân dân, cán bộ tư pháp và tổ trưởng tổ dân phố tại 4 địa bàn. Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật kết hợp thống kê mô tả và so sánh đối chiếu được lựa chọn nhằm bóc tách khoảng cách giữa quy định trên văn bản và thực tiễn thi hành. Quá trình thu thập và xử lý dữ liệu được tiến hành liên tục từ quý 3 năm 2005 đến quý 2 năm 2007.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mức độ ô nhiễm không khí và chất thải rắn sinh hoạt tại các phường nội thành đã vượt ngưỡng cảnh báo nghiêm trọng. Nồng độ bụi lơ lửng trung bình toàn thành phố vượt tiêu chuẩn cho phép từ 2,72 đến 4,8 lần; riêng tại trục giao thông chính đi qua phường Thượng Đình và Ô Chợ Dừa, lượng bụi đo được từ 0,3 đến 1,0 mg/m³, cao gấp 2 đến 6 lần quy chuẩn kỹ thuật. Lượng khí độc SO₂ vượt từ 3 đến 6 lần và CO₂ vượt từ 2 đến 5 lần giới hạn an toàn. Lượng rác thải rắn bình quân đầu người tăng nhanh từ mức 0,5–0,8 kg/người/ngày giai đoạn trước năm 1995 lên 0,8–1,2 kg/người/ngày vào năm 2002. Đáng chú ý, tỷ trọng chất thải nhựa, nilon và cao su khó phân hủy trong rác thải đô thị tăng vọt từ 1,5% năm 2000 lên 9,6% năm 2001 và đạt 16,0% vào năm 2002, trong khi toàn thành phố rộng 4.300 ha chỉ bố trí được 120 điểm tập kết rác.

Thứ hai, hạ tầng thoát nước và xử lý nước thải tê liệt dẫn đến ô nhiễm nước mặt cục bộ kéo dài. Khoảng 500.000 m³ nước thải sinh hoạt và công nghiệp mỗi ngày tại nội thành Hà Nội được xả thẳng vào 4 dòng sông tiêu chính gồm sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét và sông Kim Ngưu. Chỉ có 6,0% tổng lượng nước thải sản xuất qua xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường trước khi thải bỏ, 94,0% còn lại chứa hàm lượng hóa chất và kim loại nặng cao chưa qua xử lý triệt để. Tại phường Quỳnh Mai, hệ thống cống ngầm đường kính phi 600 mm lắp đặt từ thập niên 1960 đã xuống cấp nghiêm trọng, gây ngập úng tầng 1 của các dãy nhà tập thể vào mùa mưa với tần suất 4–6 lần mỗi năm.

Thứ ba, sự quá tải hành chính và thiếu hụt nhân lực chuyên môn tại bộ máy chính quyền cơ sở tạo nên lỗ hổng lớn trong áp dụng pháp luật. Ủy ban nhân dân cấp phường phải giải quyết trung bình hơn 70 đầu việc hành chính sự vụ mỗi ngày nhưng không có biên chế cán bộ chuyên trách về môi trường. Công tác quản lý môi trường chỉ được giao kiêm nhiệm cho cán bộ địa chính hoặc ký hợp đồng ngắn hạn, dẫn đến việc buông lỏng kiểm tra các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm trên địa bàn.

Thứ tư, vai trò tự quản và giám sát của cộng đồng dân cư chưa được thể chế hóa đầy đủ. Nghiên cứu chỉ ra rằng 56,0% số hộ dân bị ảnh hưởng trực tiếp bởi khói bụi và tiếng ồn nhưng không có cơ chế chính thức để khiếu nại hoặc tham gia thẩm định các dự án xây dựng tại địa phương. Tỷ lệ mật độ xây dựng cao tại 13/18 phường nội thành (chiếm 72,0%) cùng diện tích cây xanh bình quân chỉ đạt 1,1 m²/người khiến điều kiện vi khí hậu suy giảm nghiêm trọng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của các tồn tại trên bắt nguồn từ cơ chế phát triển kinh tế thị trường chạy theo lợi nhuận ngắn hạn, xem nhẹ trách nhiệm xã hội và môi trường. Cơ sở hạ tầng đô thị tại các khu tập thể cũ như Nhà máy Thuốc lá Thăng Long, Cao su Sao Vàng hay Dệt 8/3 được xây dựng từ những năm 1960–1970 theo mô hình dùng chung công trình phụ, nay dân số tăng gấp 3–4 lần khiến hạ tầng thoát nước quá tải hoàn toàn. So sánh với các nghiên cứu quản trị đô thị hiện đại, mô hình quản lý mệnh lệnh hành chính đơn thuần từ trên xuống đã bộc lộ sự bất cập rõ rệt nếu thiếu sự đồng thuận và giám sát từ các tổ chức xã hội và ban tự quản tổ dân phố.

Dữ liệu nghiên cứu thực địa có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột thể hiện sự tăng trưởng theo cấp số nhân của tỷ lệ rác thải nhựa (1,5% năm 2000 lên 16% năm 2002) và bảng tổng hợp các chỉ số hóa lý của nguồn nước tại sông Tô Lịch và hai hồ Văn Chương, Linh Quang nhằm minh chứng rõ nét mức độ vượt ngưỡng cho phép của các chỉ số COD, BOD₅ và Coliform.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế pháp lý và phân cấp thẩm quyền quản lý môi trường cho cấp phường. Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cần ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết quy trình xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi xả rác bừa bãi và lấn chiếm công trình thoát nước, quy định mức phạt linh hoạt phù hợp thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp phường; đồng thời bố trí tối thiểu 01 biên chế chuyên trách về quản lý tài nguyên và môi trường tại 100% các phường đô thị trong lộ trình 2008–2010.

Thứ hai, thể chế hóa cơ chế huy động sự tham gia của cộng đồng thông qua hương ước và quy ước dân cư. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Ủy ban nhân dân phường cần phối hợp xây dựng và đưa tiêu chí bảo vệ môi trường vào tiêu chuẩn bình xét "Gia đình văn hóa", "Tổ dân phố văn hóa"; thành lập các Ban Thanh tra nhân dân và Tổ tự quản môi trường tại từng cụm dân cư nhằm giám sát việc thu gom rác thải đúng giờ (từ 17h00 đến 22h00 hàng ngày) và phát hiện các cơ sở sản xuất lén lút xả thải, phấn đấu đạt tỷ lệ 95% hộ dân cam kết không đổ rác ra lòng đường trong giai đoạn 2008–2012.

Thứ ba, đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật môi trường đa kênh. Phòng Tư pháp phối hợp cùng cơ quan truyền thông địa phương xây dựng chương trình phát thanh định kỳ 3 lần/tuần trên hệ thống loa truyền thanh phường về các điều khoản cấm của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005; phát hành sổ tay hướng dẫn phân loại rác tại nguồn đến từng hộ gia đình, hướng tới mục tiêu 85% cư dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ pháp lý về môi trường trước năm 2010.

Thứ tư, đầu tư nâng cấp đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và thực hiện quy hoạch di dời các cơ sở gây ô nhiễm. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cần bố trí nguồn vốn ngân sách để cải tạo, nâng cấp mạng lưới thoát nước ngầm từ kích thước phi 600 mm lên quy cách tiêu chuẩn tại các khu tập thể cũ, triển khai dự án nạo vét toàn diện hồ Linh Quang và hồ Văn Chương, đồng thời lập lộ trình di dời các nhà máy công nghiệp nặng (Cao su Sao Vàng, Thuốc lá Thăng Long) ra khỏi khu vực nội thành giai đoạn 2008–2015 nhằm giảm 70% lượng khí thải độc hại phát tán vào khu dân cư.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ lãnh đạo và công chức tại Ủy ban nhân dân các cấp, đặc biệt là cấp phường, xã. Tài liệu cung cấp giải pháp thực tế để tháo gỡ điểm nghẽn trong quản lý hành chính, quy trình hòa giải các tranh chấp ô nhiễm môi trường phát sinh tại cụm dân cư và cách thức tổ chức lực lượng tự quản cơ sở.

Thứ hai, các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý chuyên ngành tại Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường. Dữ liệu thực chứng và phân tích bất cập trong phân cấp quản lý là nguồn tham khảo giá trị để xây dựng các nghị định hướng dẫn thi hành luật và quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính.

Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Luật học, Xã hội học, Quản lý Đô thị và Khoa học Môi trường. Luận văn đóng vai trò như một nghiên cứu điển hình về phương pháp kết hợp giữa lý luận pháp lý chuẩn tắc và điều tra xã hội học pháp luật thực địa.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ và mạng lưới hoạt động vì môi trường (NGOs). Khung phân tích về sự tham gia của cộng đồng giúp các chuyên gia thiết kế các dự án can thiệp dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao năng lực thích ứng và cải thiện vệ sinh môi trường đô thị hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường ở cấp phường lại là mắt xích yếu nhất trong hệ thống quản lý? Chính quyền cấp phường phải xử lý khối lượng công việc hành chính rất lớn với hơn 70 đầu việc mỗi ngày nhưng hoàn toàn không có biên chế cán bộ chuyên trách về môi trường. Cán bộ kiêm nhiệm thiếu chuyên môn sâu về kỹ thuật quan trắc và giám sát môi trường, trong khi công tác phối hợp kiểm tra liên ngành đối với các doanh nghiệp đóng trên địa bàn còn nhiều vướng mắc về thẩm quyền.

2. Thành phần rác thải rắn tại đô thị Hà Nội đã thay đổi như thế nào trong giai đoạn nghiên cứu? Lượng phát thải rác sinh hoạt tăng từ 0,5–0,8 kg/người/ngày lên 0,8–1,2 kg/người/ngày vào năm 2002. Tỷ lệ chất thải khó phân hủy gồm bao bì nilon, cao su và nhựa tổng hợp tăng đột biến từ 1,5% năm 2000 lên 9,6% năm 2001 và chạm mốc 16,0% năm 2002, gây sức ép nặng nề lên quỹ đất tập kết và quy trình xử lý chôn lấp.

3. Nguồn phát sinh ô nhiễm không khí chính tại các phường công nghiệp tập trung như Thượng Đình là gì? Ô nhiễm không khí tại Thượng Đình chủ yếu xuất phát từ 3 nguồn: khí thải và bụi của các nhà máy công nghiệp cũ nằm xen cài trong khu dân cư (chiếm 15,7%), khí thải và bụi đường từ các phương tiện giao thông cơ giới (chiếm 72,2%), và hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng kết hợp đun nấu than tổ ong sinh hoạt (chiếm 12,1%), khiến nồng độ bụi vượt chuẩn 2 đến 6 lần.

4. Cộng đồng dân cư có thể tham gia thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường qua những hình thức nào? Cộng đồng có thể tham gia trực tiếp thông qua việc thực hiện nếp sống văn minh đô thị, giữ gìn vệ sinh ngõ phố, phân loại rác thải và đóng góp ngày công lao động nạo vét cống rãnh; hoặc tham gia gián tiếp qua các Tổ tự quản môi trường, Ban Thanh tra nhân dân để giám sát, phản ánh sai phạm và đóng góp ý kiến xây dựng quy hoạch địa phương.

5. Điểm mới quan trọng nhất của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 đối với cấp chính quyền cơ sở là gì? Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 lần đầu tiên quy định rõ ràng trách nhiệm quản lý nhà nước về môi trường của Ủy ban nhân dân cấp xã/phường tại Điều 124, bao gồm thẩm quyền kiểm tra hộ gia đình, hòa giải tranh chấp môi trường, chỉ đạo xây dựng quy ước bảo vệ môi trường trong hương ước và quản lý các tổ chức tự quản vệ sinh môi trường địa phương.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về 4 hình thức thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường và làm rõ bản chất của quản trị môi trường dựa vào cộng đồng trong bối cảnh phát triển bền vững.
  • Đánh giá thực chứng bức tranh ô nhiễm không khí, nước mặt và chất thải rắn tại 4 phường điển hình của Hà Nội với các thông số vượt chuẩn nghiêm trọng (bụi vượt 2,72–4,8 lần; 94% nước thải chưa xử lý).
  • Chỉ rõ nguyên nhân cốt lõi dẫn đến hiệu lực thi hành pháp luật môi trường tại cấp phường còn thấp do quá tải hơn 70 đầu việc hành chính và thiếu hụt nhân lực chuyên trách.
  • Khẳng định tính tất yếu của việc thể chế hóa vai trò cộng đồng dân cư thông qua hệ thống quy ước tự quản, giám sát và hòa giải cơ sở.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về thể chế, nhân sự, hạ tầng kỹ thuật và truyền thông giáo dục pháp luật giai đoạn 2008–2015.

Bước tiếp theo, các địa phương cần nhanh chóng triển khai thí điểm mô hình "Tổ dân phố tự quản môi trường" và kiện toàn biên chế chuyên trách môi trường cấp phường. Quý độc giả, cán bộ quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác chi tiết các mô hình phân tích và dữ liệu khảo sát trong toàn văn luận văn để ứng dụng vào công tác thực tiễn và hoạch định chính sách.