Luận văn thạc sĩ thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường ở cấp phường và vai trò của cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường nhằm phát triển bền vững ở việt nam hiện nay

Luận văn thạc sĩ phân tích thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường cấp phường và vai trò cộng đồng trong phát triển bền vững tại Việt Nam hiện nay.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ luật học

2007

124
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường

Chương này tập trung vào cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường tại Việt Nam. Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993 và sửa đổi năm 2005 là nền tảng pháp lý quan trọng. Môi trường được định nghĩa là yếu tố thiết yếu cho sự phát triển bền vững. Các hình thức thực hiện pháp luật bao gồm tuân thủ, thi hành, sử dụng và áp dụng pháp luật. Chủ thể của pháp luật bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân. Sự cần thiết của việc bảo vệ môi trường được nhấn mạnh thông qua các cấp độ bảo vệ từ địa phương đến quốc gia.

1.1 Khái niệm môi trường và pháp luật bảo vệ môi trường

Môi trường được hiểu là tổng hợp các yếu tố tự nhiên và nhân tạo bao quanh con người. Pháp luật bảo vệ môi trường là hệ thống các quy định nhằm điều chỉnh hành vi của các chủ thể trong việc bảo vệ môi trường. Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 là văn bản pháp lý quan trọng, quy định các biện pháp bảo vệ môi trường và trách nhiệm của các chủ thể.

1.2 Hình thức và chủ thể thực hiện pháp luật

Các hình thức thực hiện pháp luật bao gồm tuân thủ, thi hành, sử dụng và áp dụng pháp luật. Chủ thể thực hiện pháp luật bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân. Sự tham gia của cộng đồng trong việc thực hiện pháp luật được coi là yếu tố quan trọng để đạt hiệu quả cao.

II. Thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường cấp phường

Chương này phân tích thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường tại các phường ở Hà Nội. Các phường được nghiên cứu bao gồm Thượng Đình, Quỳnh Mai, Văn Chương và Ô Chợ Dừa. Hiện trạng môi trường tại các phường này cho thấy sự ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng. Việc thực hiện pháp luật còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong công tác ban hành và phổ biến pháp luật. Vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường được đánh giá là chưa được phát huy đúng mức.

2.1 Hiện trạng môi trường tại các phường

Hiện trạng môi trường tại các phường Thượng Đình, Quỳnh Mai, Văn Chương và Ô Chợ Dừa cho thấy sự ô nhiễm không khí, nước và đất. Các nguồn ô nhiễm chính bao gồm chất thải sinh hoạt, khí thải từ phương tiện giao thông và hoạt động sản xuất nhỏ lẻ. Cộng đồng chưa được huy động hiệu quả trong việc giám sát và bảo vệ môi trường.

2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật

Việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường tại các phường còn nhiều bất cập. Các quy định pháp luật chưa được phổ biến rộng rãi, dẫn đến sự thiếu hiểu biết và tuân thủ của người dân. Chính quyền cấp phường cũng gặp khó khăn trong việc thực thi pháp luật do thiếu nguồn lực và cơ chế giám sát.

III. Vai trò của cộng đồng trong bảo vệ môi trường

Chương này nhấn mạnh vai trò của cộng đồng trong việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường. Cộng đồng được định nghĩa là nhóm người có chung mối quan tâm và mục tiêu. Sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường có thể thông qua các hình thức trực tiếp và gián tiếp. Các loại hình tham gia bao gồm giáo dục, tuyên truyền và giám sát. Tính hiệu quả của sự tham gia cộng đồng được đánh giá cao trong việc cải thiện chất lượng môi trường.

3.1 Khái niệm và hình thức tham gia của cộng đồng

Cộng đồng được hiểu là nhóm người có chung mối quan tâm và mục tiêu. Sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường có thể thông qua các hình thức trực tiếp như tham gia các hoạt động dọn dẹp, giám sát và báo cáo vi phạm, hoặc gián tiếp thông qua giáo dục và tuyên truyền.

3.2 Tính hiệu quả của sự tham gia cộng đồng

Sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường mang lại hiệu quả cao trong việc cải thiện chất lượng môi trường. Cộng đồng có thể đóng vai trò giám sát và phản ánh các vấn đề môi trường, đồng thời thúc đẩy ý thức bảo vệ môi trường trong cộng đồng.

IV. Kiến nghị và giải pháp nâng cao vai trò cộng đồng

Chương này đề xuất các kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường. Các giải pháp bao gồm tăng cường công tác xây dựng và ban hành pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, và đẩy mạnh sự tham gia của cộng đồng. Việc huy động sự tham gia của cộng đồng được coi là yếu tố then chốt để đạt được mục tiêu phát triển bền vững.

4.1 Tăng cường công tác xây dựng và ban hành pháp luật

Cần tăng cường công tác xây dựng và ban hành các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, đảm bảo tính khả thi và phù hợp với thực tiễn. Pháp luật bảo vệ môi trường cần được phổ biến rộng rãi để nâng cao nhận thức và sự tuân thủ của người dân.

4.2 Đẩy mạnh sự tham gia của cộng đồng

Cần đẩy mạnh sự tham gia của cộng đồng trong việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường thông qua các chương trình giáo dục, tuyên truyền và giám sát. Sự tham gia của cộng đồng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường và đạt được mục tiêu phát triển bền vững.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường ở cấp phường và vai trò của cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường nhằm phát triển bền vững ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1:Cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường  Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường ở cấp phường và vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường  Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp nâng cao vai trò cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường Cuối cùng là phần kết luận Tác giả mong nhận được những nhận xét cũng như những đóng góp quý báu để việc nghiên cứu được hoàn thiện hơn. Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG. Môi trường có tầm quan trọng to lớn đối với đời sống con người và sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước và nhân loại. Ngày nay vấn đề môi trường là một trong những vấn đề toàn cầu, là thách thức to lớn đối với mỗi quốc gia và đối với toàn nhân loại.

Giải quyết vấn đề toàn cầu đòi hỏi tiến hành hàng loạt biện pháp, với các phương tiện, công cụ khác nhau, trong đó pháp luật là một phương tiện cần thiết nhất. Xuất phát từ nhận thức này, từ năm 1993 Nhà nước ta đã ban hành Luật Bảo vệ môi trường và đến năm 2005 Luật bảo vệ môi trường mới được ban hành và thay thế Luật năm 1993. Cơ sở lý luận - Luật bảo vệ môi trƣờng của Việt Nam hiện nay Trong các thập kỷ trước, khi sự phát triển kinh tế là động lực phát triển của các quốc gia thì tài nguyên, môi trường không phải là vấn đề quan trọng. Các Quốc gia sẵn sàng khai thác hết tài nguyên thiên nhiên để công nghiệp hoá, để phát triển và vấn đề dân số chưa đạt tới sự báo động.

Chỉ đến khi phải đối mặt với sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự mất cân bằng sinh thái và những thiệt hại mà thiên nhiên gây ra thì vấn đề bảo vệ môi trường mới nổi lên như một thách thức xã hội. Vấn đề tất yếu là cần phải có những chế tài nhằm hạn chế, duy trì và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên môi trường. Luật Môi trường ra đời như là biện pháp giải quyết thách thức đó. Tại Việt Nam, Luật Môi trường phát triển tương đối muộn được chia thành hai thời kỳ trước và sau thời kỳ đổi mới điều này xuất phát từ yếu tố lịch sử cũng như vấn đề phát triển kinh tế xã hộị của quốc gia.

Trước thời kỳ đổi mới năm 1986, vấn đề quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước là nhằm phục hồi nền kinh tế xã hội sau chiến tranh thúc đẩy mọi nguồn lực sản xuất thoát ra khỏi sự khủng hoảng kinh tế xã hội. Trong thời kỳ này các biến động xấu của thiên nhiên do huỷ hoại môi trường chưa thể hiện ở mức cao, sự ô nhiễm tại các khu vực thành thị là không nhiều vì các phương tiện giao thông còn ít…Chính vì vậy, các quy định của pháp luật chỉ liên quan đến một số khía cạnh của bảo vệ môi trường xuất phát từ yêu cầu quản lý nhà nước chứ chưa nhằm vào việc bảo vệ các yếu tố môi trường và nằm rải rác trong các văn bản pháp luật đơn hành. Sắc lệnh số 142/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 21/12/1949 quy định việc kiểm soát lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng có thể được coi là văn bản pháp luật sớm nhất đề cập đến vấn đề môi trường. Một số văn bản khác do Chính phủ tuy không chính thức điều chỉnh các vấn đề môi trường song cũng có thể coi là có liên quan đến vấn đề môi trường.

Đó là Nghị quyết 36/CP ngày 11/3/1961 của Hội đồng Chính phủ về việc quản lý, bảo vệ tài nguyên dưới lòng đất; Chỉ thị số 127/CP ngày 24/5/1971 của Hội đồng Chính phủ về công tác điều tra cơ bản tài nguyên và điều kiện thiên nhiên; Chỉ thị số 07/TTg ngày 16/01/1964 về thu tiền bán khoán lâm sản và thu tiền nuôi rừng; Nghị quyết số 183/CP ngày 25/9/1966 về công tác trồng cây gây rừng và đặc biệt là Pháp lệnh về bảo vệ rừng ban hành ngày 11/9/1972. Điều đáng chú ý nhất trong giai đoạn này là việc coi bảo vệ môi trường là đòi hỏi hiến địn, cụ thể được quy định tại điều 36 Hiến pháp 1980 “Các cơ quan nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ cải tạo môi trường sống” ”[5]. Giai đoạn 1986 đến nay, khủng hoảng kinh tế xã hội cuối những năm 70 và đầu những năm 80 đã dẫn đến những cuộc cải cách kinh tế sâu sắc bằng việc xóa bỏ cơ chế tập trung bao cấp và chuyển sang cơ chế thị trường có sự định hướng, điều này đã làm thay đổi nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Nền kinh tế thị trường cũng là nguyên nhân của nhiều hiện tượng kinh tế xã hội tiêu cực, trong số đó có suy thoái môi trường, vì chạy theo lợi nhuận, làm giàu bằng mọi giá nên các nguồn tài nguyên bị khai thác bừa bãi, hậu quả là môi trường bị suy thoái nghiêm trọng.

Quá trình đô thị hóa dưới tác động của kinh tế thị trường diễn ra khá nhanh chóng cũng đã làm tăng sức ép môi trường ở các khu vực đô thị. Số lượng máy móc thiết bị, ô tô, xe máy tăng lên gấp nhiều lần so với 10 năm trước đó. Lượng khí thải từ các máy móc thiết bị này đã làm cho môi trường, nhất là môi trường đô thị bị ô nhiễm. Với những nguyên nhân trên đã làm cho vấn đề bảo vệ môi trường trở thành một thách thức lớn của xã hội.

Trên cơ sở Hiến pháp 1992, ngày 27/12/1993 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật bảo vệ môi trường, với 7 chương, 55 điều. Luật này đã được Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI kỳ họp thứ 8 sửa đổi và thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 – Đây là nguồn cơ bản nhất của pháp luật môi trường Việt Nam hiện hành. Như vậy sự ra đời của Luật bảo vệ Môi trường đã cho thấy tính toàn diện và hệ thống hơn, trong các quy định của Luật đã đề cập đến hầu hết các yếu tố và vấn đề của môi trường và bảo vệ môi trường từ chức năng nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường đến quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức trong khai thác, sử dụng và bảo vệ các yếu tố khác nhau của môi trường. Hệ thống tiêu chuẩn môi trường cũng đã được ban hành để làm cơ sở pháp lý cho việc xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật về môi trường.

Các quy định đã chú trọng tới khía cạnh toàn cầu của vấn đề môi trường, đảm bảo tính tương đồng giữa các quy phạm pháp luật với các quy định trong công ước quốc tế. Luật bảo vệ môi trường là cơ sở lý luận quan trọng, đảm bảo hiệu quả hoạt động bảo vệ môi trường của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân, người dân trong việc thực hiện pháp luật môi trường, có nghĩa là làm tốt việc bảo vệ môi trường chung của quốc gia. Các quy định pháp luật về môi trường đã chú trọng tới khía cạnh toàn cầu của vấn đề môi trường. Tính tương đồng giữa các quy phạm pháp luật môi trường Việt Nam với các quy định trong công ước quốc tế mà Chính phủ Việt Nam đã ký trước các quy định của pháp luật nội địa trong việc giải quyết các vấn đề cụ thể.

Hiệu lực của các quy định của pháp luật môi trường được nâng cao do Nhà nước sử dụng nhiều các văn bản luật. Đây là những điều kiện tiền đề rất thuận lợi cho việc điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh từ lĩnh vực môi trường. Chính vì lý do này nên các quy định của pháp luật môi trường đã phát huy được tác dụng của chúng trong thực tế. Để cụ thể hóa Luật bảo vệ môi trường, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 hướng dẫn thực hiện Luật bảo vệ môi trường và Nghị định số 81 ngày 09/8/2006 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

Ngoài Luật bảo vệ môi trường còn có các luật đơn hành về lĩnh vực khác, pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nghị quyết, nghị định của Chính phủ, nghị quyết, chỉ thị, thông tư của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, song có chứa đựng một số quy định về bảo vệ môi trường bao gồm:  Luật khoáng sản được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 20/3/1996 là đạo luật đơn hành khác mà chúng ta cần phải kể đến nếu xét ở góc độ bảo vệ môi trường. Điều 16 Luật khoáng sản quy định rõ các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động khai khoáng phải thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường. Khai khoáng là một trong những hoạt động của con người có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Vì vậy, tuy được ban hnàh để điều chỉnh các quan hệ liên quan đến việc quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên khoáng sản song Luật này chứa đựng khá nhiều các quy định về bảo vệ môi trường.

 Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân ban hành ngày 30/6/1989 cũng là văn bản pháp luật đơn hành có chứa nhiều quy định về bảo vệ môi trường.  Bộ luật dân sự (điều 268, điều 275 và điều 720 là các quy phạm pháp luật môi trường. Các quy định trong các điều kể trên gắn việc sử dụng, định đoạt, sở hữu với nghĩa vụ bảo vệ môi trường.  Luật bảo vệ phát triển rừng năm 1991.

 Luật dầu khí năm 1993; 2000.  Luật đất đai 1993; một số điều sửa đổi, bổ sung Luật đất đai 1998; 2000; 2001; Luật đất đai 2003.  Luật tài nguyên nước 1998  Bộ luật hình sự 1999 quy định trách nhiệm hình sự đối với những hành vi xâm hại các yếu tố của môi trường như tội làm ô nhiễm không khí, tội làm ô nhiễm đất, tội làm ô nhiễm nguồn nước. ( tại chương XVII – Các tội phạm về môi trường)  Luật thủy sản 2003 thay thế Pháp lệnh bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản 1989.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Vai trò cộng đồng và thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường cấp phường tại Việt Nam" khám phá tầm quan trọng của sự tham gia của cộng đồng trong việc thực thi các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường tại cấp phường. Tác giả nhấn mạnh rằng sự hợp tác giữa chính quyền địa phương và người dân là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả quản lý môi trường. Bài viết cũng chỉ ra những lợi ích mà việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường mang lại, bao gồm cải thiện chất lượng sống, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và nâng cao nhận thức cộng đồng về trách nhiệm bảo vệ môi trường.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Luận văn tốt nghiệp tìm hiểu nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường tại xã thuận thành, thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, nơi nghiên cứu về nhận thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường. Ngoài ra, Khoá luận tốt nghiệp đánh giá hiện trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về quản lý chất thải, một phần quan trọng trong bảo vệ môi trường. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ châu á học vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái ở Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XXI, để so sánh và học hỏi từ các kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh vực này. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường.