Chương 1 Giáo dục bảo vệ môi trường đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, HĐND, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong công tác theo dõi, đánh giá, báo cáo về tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi cả nước. Theo dõi chung về thi hành pháp luật là nhiệm T 61 vụ mới đối với Bộ Tư pháp. Nội dung công việc theo dõi là thu thập có hệ thống và phân tích các thông tin liên quan tới quá trình tổ chức thực hiện pháp luật. Việc thu thập và phân tích thông tin đó làm cơ sở cho việc tiếp theo là hoạt động đánh giá thực trạng việc tổ chức thi hành pháp luật.
Nội dung của việc đánh giá là mổ xẻ, phân tích so sánh những gì đã đề ra với kết quả thực tế đạt được và cách thức tiến hành để đạt được kết quả đó đồng thời chỉ ra những bất cập, tồn tại và nguyên nhân của những bất cập, tồn tại để từ đó có cơ sở đề xuất những kiến nghị. Theo đó, việc theo dõi, đánh giá tổ chức thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường có thể coi là việc thu thập một cách hệ thống các thông tin (thông qua các chỉ số được thiết kế nhằm vào mục đích cụ thể), phân tích so sánh giữa mục tiêu đề ra (quy định của pháp luật đi vào cuộc sống) với thực tế đạt được (thực tế tuân thủ, áp dụng quy định của pháp luật) và chỉ ra sự tác động của quy định pháp luật cùng những tồn tại, bất cập và rút ra nguyên nhân, đưa ra những kiến nghị sửa đổi, bổ sung hay tăng cường cho phù hợp với mục tiêu. Đất nước ta đang trong tiến trình đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Phát triển kinh tế – xã hội đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình.
Tuy nhiên, cũng như nhiều nước trên thế giới, tăng trưởng kinh tế nhanh thường đi kèm với các vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nếu không có các giải pháp hữu hiệu ngăn chặn.3 Thực trạng cải tạo và bảo vệ môi trường ở Việt Nam Tăng trưởng sẽ không bền vững nếu sự tăng trưởng đó không tính đến các chi phí thiệt hại phải bỏ ra do ô nhiễm môi trường. Việt Nam cũng ở trong tình trạng các thiệt Ngô Thị Nguyệt Anh 6 Chương 1 Giáo dục bảo vệ môi trường hại do ô nhiễm môi trường gây ra ở mức cao và đang có xu hướng gia tăng. Doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất nước. Chất lượng môi trường và sự phát triển bền vững phụ thuộc rất nhiều vào sự tham gia của các doanh nghiệp.
Chính vì vậy, bảo vệ môi trường tại các doanh nghiệp đang là mối quan tâm lớn trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, trong thời gian qua, hoạt động bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp tại Việt Nam còn tồn tại một số hạn chế sau đây: • Thứ nhất: T 61 T 61 Tỉ lệ các doanh nghiệp vi phạm pháp luật môi trường khá cao. Kết quả thanh tra, kiểm tra năm 2010 của Tổng cục Môi trường đối với 260 cơ sở, khu công nghiệp trên phạm vi 46 tỉnh, thành phố (trong đó có 164 khu công nghiệp, 76 cơ sở thuộc trách nhiệm thanh tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường và 20 cơ sở thuộc danh mục các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) cho thấy: - Có 33/174 cơ sở, khu công nghiệp, cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg đang hoạt động (chiếm 18,97%) chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, xác nhận cam kết bảo vệ môi trường hoặc phê duyệt đề án bảo vệ môi trường theo quy định (chủ yếu là khu công nghiệp và cơ sở thuộc Quyết định số 64), tuy nhiên chỉ có 36/141 (chiếm 25,53%) số cơ sở đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường thực hiện đúng và đầy đủ các nội dung và yêu cầu trong quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; - Có 111/174 cơ sở (chiếm 63,79%) thực hiện giám sát môi trường không đúng theo quy định; Ngô Thị Nguyệt Anh 7 Chương 1 Giáo dục bảo vệ môi trường - Có 32/100 (chiếm 32%) khu công nghiệp đang hoạt động đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, nhưng có đến 18/32 khu công nghiệp (chiếm 56,25%) có hệ thống xử lý nước thải chưa đạt yêu cầu, nước thải vượt quy chuẩn Việt Nam; - Có 46/74 cơ sở đang hoạt động (chiếm 62,16%) đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải theo quy định, tuy nhiên có đến 19/46 cơ sở (chiếm 41,30%) có hệ thống xử lý nước thải chưa đạt yêu cầu, nước thải vượt quy chuẩn Việt Nam; - Hầu hết các khu công nghiệp chưa có bãi trung chuyển chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại tập trung theo quy định; - Có 26/65 cơ sở (chiếm 40%) có phát sinh chất thải nguy hại nhưng không thực hiện đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại theo quy định và có đến 52/65 cơ sở (chiếm 80%) có phát sinh chất thải nguy hại vi phạm các quy định về quản lý chất thải nguy hại; - Có 12/74 cơ sở (chiếm 16,22%) có các thông số khí thải vượt quy chuẩn Việt Nam; - Có 15/16 cơ sở (chiếm 93,75%) thực hiện không đúng nội dung yêu cầu, tiến độ xử lý ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. • Thứ hai: T 61 T 61 Công tác bảo vệ môi trường của hầu hết các doanh nghiệp thuộc các khu công nghiệp còn nhiều yếu kém: - Về nước thải: đa số các khu công nghiệp đều phát triển sản xuất đa ngành, đa T 61 T 61 lĩnh vực nên phát thải nhiều loại nước thải khác nhau.
Việc gom và xử lý chúng là khó khăn. Mặc dù số lượng các nhà máy xử lý nước thải tập trung đã tăng lên nhưng theo báo cáo của các Ban quản lý các khu công nghiệp, tại khu vực xung quanh khu công nghiệp ở một số địa phương, một số tiêu chuẩn nước thải vượt quá quy định cho phép. Nguyên nhân là do việc vận hành và kiểm tra vận hành nhà máy xử lý nước thải chưa Ngô Thị Nguyệt Anh 8 Chương 1 Giáo dục bảo vệ môi trường có quy định pháp luật cụ thể, cũng như chưa có chế tài xử phạt có tính răn đe cao cho nên một số khu công nghiệp không vận hành các trạm xử lý nước thải liên tục. Ô nhiễm môi trường từ các khu công nghiệp đã làm gia tăng gánh nặng bệnh tật, gia tăng tỷ lệ người mắc bệnh đang lao động tại chính các khu công nghiệp và cộng đồng dân cư sống gần các khu công nghiệp đó.
- Về khí thải: mặc dù các doanh nghiệp đã có ý thức thực hiện nhưng trang thiết T 61 T 61 bị phục vụ công tác này chủ yếu còn sơ sài, đơn giản, chưa giảm thiểu triệt để ảnh hưởng của khí thải gây ra đối với môi trường xung quanh. Chất lượng môi trường không khí tại các khu công nghiệp, đặt biệt là các khu công nghiệp được thành lập trên cơ sở các doanh nghiệp cũ có sẵn với công nghệ sản xuất lạc hậu hoặc chưa được đầu tư hệ thống xử lý khí thải đang bị suy giảm. Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm môi trường không khí trong các cơ sở sản xuất của các khu công nghiệp cũng là vấn đề cần được quan tâm. Cụ thể như các đơn vị chế biến thủy sản, sản xuất hóa chất đang gây ô nhiễm tại chính các cơ sở sản xuất đó và đã tác động không nhỏ đến sức khỏe người lao động.
- Về chất thải nguy hại và chất thải rắn: Một số doanh nghiệp trong khu công T 61 T 61 nghiệp không thực hiện đăng ký nguồn thải theo quy định, có doanh nghiệp tự lưu giữ chất thải, gây ô nhiễm cục bộ. Tại một số địa phương, còn chưa có doanh nghiệp thu gom, xử lý chất thải nguy hại cho doanh nghiệp thứ cấp trong khu công nghiệp nên chất thải nguy hại không được quản lý, xử lý theo quy định, nảy sinh nguy cơ về ô nhiễm môi trường. Về chất thải rắn, tại một số khu công nghiệp chưa có nơi tập kết chất thải rắn để đưa đi xử lý, vì vậy, khó khăn trong việc thu gom, xử lý. Một số doanh nghiệp trong khu công nghiệp tự lưu giữ và xử lý không đảm bảo tiêu chuẩn.
Lượng chất thải rắn nguy hại đang có xu hướng tăng cao trong thời gian gần đây, đặc biệt là tại các khu có nhiều doanh nghiệp điện tử, sản xuất hóa chất, lắp ráp thiết bị cao cấp. Nhiều khu công nghiệp cũng chưa có khu vực phân loại và trung chuyển chất thải rắn. Ngô Thị Nguyệt Anh 9 Chương 1 Giáo dục bảo vệ môi trường Không khí tại một số khu công nghiệp cũng bị ô nhiễm nghiêm trọng do khí thải từ các nhà máy sản xuất. • Thứ ba: T 61 T 61 Nước ta đã và đang phải đối mặt với nhiều thách thức ngày càng tăng trong công cuộc bảo vệ môi trường.
Áp lực do dân số, phát triển công nghiệp và hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi tiêu thụ ngày càng nhiều tài nguyên thiên nhiên và năng lượng. Phát triển công nghiệp hoá đang gây ô nhiễm môi trường trầm trọng, các vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường ngày càng gia tăng. Theo nhận định của Cục Cảnh sát môi trường, không chỉ những doanh nghiệp nhỏ mà ngay cả nhiều công ty, tập đoàn kinh tế lớn cũng không coi trọng bảo vệ môi trường, còn lỏng lẻo trong việc quản lý, xử lý chất thải độc hại. Cả nước ta hiện nay có trên 200 khu sản xuất công nghiệp thì 70% trong số đó chưa xây dựng hệ thống xử lý chất thải rắn và lỏng.
Đây chính là nguồn gây ô nhiễm ở các dòng sông và nhiều khu vực có người dân sinh sống. Tình trạng vi phạm phổ biến tại các khu công nghiệp vẫn là không thực hiện đúng các yêu cầu báo cáo đánh giá tác động môi trường, xả thải chưa qua xử lý và khai thác nguồn nước ngầm trái phép. Ngoài ra, việc xử lý chất thải y tế; bảo vệ động vật hoang dã; khai thác khoáng sản trái phép vẫn nhức nhối, phức tạp.