Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Chương này tác giả trình bày những lý do và mục tiêu hình thành nên nghiên cứu này đồng thời đưa ra những câu hỏi đề giải quyết những mục tiêu nghiên cứu. Bên cạnh đó, tác giả cũng sẽ đề cập đến phạm vi, ý nghĩa nghiên cứu và kết cấu luận văn Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương này tác giả trình bày những lý thuyết được đúc kết từ nhiều nguồn đáng tin cậy liên quan đến đề tài đề tạo nguồn thông tin dữ liệu nghiên cứu cho. tài: khái niệm Nhà cung cắp, khách hàng, Chất lượng mối quan hệ và các yếu tố liên quan đến đề tài.
Trên cơ sở đó, luận văn sẽ đưa ra những giả thuyết và mô lình nghiên cứu đề xuất. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày những thiết kế và quy trình nghiên cứu, phương pháp phân tích dữ liệu, kết quả xây dựng và hiệu chỉnh thang đo phủ hợp, Chương 4: Kết quả và bàn luận Chương này đưa ra kết quả nghiên cứu, kết quả sau khi kiểm định thang đo, phân tích các nhân tố khám phá EFA và phân tích tương quan, phân tích hồi quy tuyến tính đa biển. Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu và đưa ra những bàn luận Chương §: Kết luận và các hàm ý quản trị Trình bảy kết luận của nghiên cứu, từ đó đưa ra những gợi ý đối với Nhà cung cấp và các khách hàng để có một mối quan hệ chất lượng hơn. Đồng thời đưa ra những đóng góp và hạn chế của để tài cho các định hướng nghiên cứu tiếp theo.
CHUONG 2: CO SO LY THUYET VA MO HINH NGHIEN CUU 2. Khải niệm: Lòng trung thành Có rất nhiều định nghĩa về lòng trung thành của khách hàng được các học giả và nhà nghiên cứu đưa ra: Đầu tiên, lòng trung thành của khách hàng được tác giả CunningHam định. nghĩa là mức độ mua hàng thường xuyên của khách hàng đối với một nhãn hiệu cố. Đến năm 1997, một định nghĩa khác làm rõ hơn nhữngý' én trên được đưa ra, lúc này, lòng trung thành của khách hàng không chỉ thể hiện qua hành vi lặp lại việc mua hàng mà còn thông qua việc khách hàng đề xuất sản phẩm của thương hiệu đó cho người khác mà không kèm theo bất kỳ lợi ích nào(Hesket and others,1997), Trong bài viết “Whenee consumer loyatly”? được đăng tải trên tạp chí danh tiếng Joumal of Marketing năm 1999, Giáo sư Richard L.Oliver, một nhà nghiên cứu nổi tiếng trong lĩnh vực tâm lý tiêu dung, chuyên nghiên cứu về sự hài long, long trung thành của khách hang và quy trình sau mua hang nói chung, đã đưa ra một định nghĩa bao hàm và sâu rộng hơn về khái niệm “lòng trung thành của khách hang”, nó được xem như là sự cam kết sâu sắc của việc mua lại hoặc lưu lại một sản pham/dich vu wu thích trong tương lai, dẫn đến việc lặp lại cùng một nhãn hiệu hoặc.
đặt lại mua cùng một thương hiệu, cho dù những ảnh hưởng của hoàn cảnh hoặc những nỗ lực marketing có thể làm thay đổi hành vi nay. Gan đây nhất, trong quyén “Customer Loyatly: Concept and character” (2014), tác gid Alok Kumar Rai va Medha Srivastava đưa ra một định nghĩa khác, lòng trung thành của khách hang là một dạng tâm lý đặc trưng tạo ra bởi sự hải lòng. của khách hàng kết hợp với những cảm xúc đi kèm được hình thành với nhà cung. cấp dịch vụ dẫn đến mối quan hệ ưu tiên - bảo lưu - cấp cao luôn trong một trạng thái sang và ất quan (Alok Kumar Rai and Medha Srivastava,2014), Như vậy, có rất nhiều định nghĩa về lòng trung thành của khách hàng, nhưng nhìn chung, lòng trung thành của khách hàng được hiểu đơn giản là thái d¢ hành vi của khách hàng thể hiện qua tần suất mua sản phẩm và việc lặp lại số lần mua của cùng một khách hàng đối với một thương hiệu nhất định trong tương lai, di kèm xu hướng giới thiệu sản phẩm đó cho người khác với sự tìn tưởng và hải lòng mà không tằn tại bắt cứ lợi ích nào.
Khái niệm: Sự trung thành của khách hàng (Customer loyalty) Sự trung thành của khách hàng (Khách hàng) chính là sự đồng ý hay cam kết tiếp tục mua sản phẩm hoặc tiếp tục sử dụng dịch vụ của nhà cung cấp trước đó. trong tương lai (Oliver, 1999). Theo một công trình nghiên cứu của nhiều nhóm tác giả khác nhau (Kumar và Shah, 2004; Blak và Parks, 2003), Sự trung thành của Khách hàng thể hiện ở 2 loại chính: thái độ trung thành; hành vi trung thành (Tucker, 1964); Theo Kumar va Shah (2004) sự trung thành người tiêu dùng được dựa trên một tập hợp các yếu tố: ® Đầu tiên là sự tin tưởng: người tiêu dùng phải tin tưởng vào Nhà cung cấp hoặc sản phẩm mà họ đang sử dụng. © Thứ hai là các giao dịch hoặc mối quan hệ phải có một giá trị (vật chất hoặc tỉnh thần) cao hơn so với đối thủ cạnh tranh.
® Thứ ba là những nhân viên tiếp thị tốt đem lại mối quan hệ vô cùng tốt đẹp. giữa khách hàng và Nhà cung cấp. Trong bài nghiên cứu này tác giả nghiên cứu sự trung thành của khách hàng đối với nhà cung cấp trong bối cảnh B2B theo thái độ và hành vi. Khéi niệm: Uy tin thương hiệu (Brand reputation) “Uy tin Thương Hiệu thường phải trải qua một thời gian nhất định mới có thể trở nên có ý nghĩa và có một vị trí nhất định trong tâm trí khách hàng.
Thời gian đầu, Thương Hiệu chỉ là một từ ngữ hoặc dấu hiệu không có nghĩa và nó được giới thiệu kèm theo một sản phẩm mới nảo đó. Hết năm này qua năm khác, bằng những. nỗ lực không ngừng nghỉ cống hiến và thực hiện những cam kết của mình,uy tín Thương Hiệu mới được khách hàng khẳng định và không dễ phai nhạt trong tâm trí của công chúng.” Uy tín Thương Hiệu được xác định là “việc tạo dựng hình ảnh Công ty nhằm chiếm giữ một vị trí nỗi trội và bền vững trong tâm trí khách hàng được khách hàng tin tưởng ”. Khái niệm: Trình độ chuyên môn (Expertise) Trình độ chuyên môn của đại diện bán hàng Nhà cung cắp hợp tác với khách hàng thể hiện cụ thẻ ở việc giải quyết các tình huống cắp bách xảy ra trong quá trình hợp tác, khả năng làm thỏa mãn khách hàng ở mức tối đa và trình độ kiến thức chuyên môn, kiến thức sản phẩm, sự hoàn thành công việc được phân công một cách có kế hoạch, khoa học mà không tốn kém quá nhiều chỉ phí như những đại diện bán hàng khác (Lagace, 1991).
Trình độ chuyên môn cũng ảnh hưởng đến chất lượng mối quan hệ bên cạnh hành vi đạo đức trong quá trình hợp tác giữa hai bên đối tác. Khai niệm: Hành vi đạo đức (Ethical sales behavior) Theo Roman va Munuera (2005) hành vi bán hàng có đạo đức mang tằm quan trọng và đồng vai trò trong việc xây dựng niềm tin với khách hàng, đại điện bán hàng của Nhà cung cấp là người nắm vai trò quan trọng trong việc tương tác với khách hàng, bất cứ hành vi gian lận thiếu đạo đức của đại diện bán hàng nhắm tới khách hàng sẽ gây ra sự mắt niềm tin và hệ lụy vô cùng lớn đối chất lượng mối quan hệ giữa Nhà cung cắp và khách hàng (Mantel, 2005). Hành vi bán hàng có đạo đức của một đại diện bán hàng được đánh giá bằng sự hài lòng của khách hàng đó (Roman, 2005). Một số ví dụ điển hình về hành vi bán hàng không có đạo đức đối 10 với khách hàng đó là nói không đúng sự thật về những chương trình xúc tiến bán hàng, che dấu đi những lợi mà đáng ra các khách hàng được hưởng, vì lợi ích mang tính cá nhân.
Nói phóng đại về chức năng hay lợi ích của sản phẩm làm khách hàng mắt lòng tin khi biết được tính năng thật của sản phẩm, bán hàng không đúng. giá nhà cung cấp đề xuất (Alrubaiee, 2012; Chen và cộng sự, 2009) làm ảnh hưởng. đến chất lượng mối quan hệ về lâu dài giữa Nhà cung cắp và khách hàng. Khái niệm: Chắt lượng dịch vụ (Sevice quality) Trong nghiên cứu này, chất lượng dịch vụ (Sevice quality) chính là sự cảm nhận từ phía khách hàng sau khi sử dụng các dịch vụ.
Chất lượng dịch vụ là rất quan trọng đối với sự hài lòng của các khách hàng và su tin tưởng. Theo quan điểm hướng về khách hàng, chất lượng dịch vụ đồng nghĩa với việc đáp ứng mong đợi của khách hàng, thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Do vậy, chất lượng được xác định bởi khách hàng. Chính vì sự đa dạng về nhu cầu của các khách hàng cho nên chất lượng cũng sẽ có nhiều cấp độ tuỳ theo đối tượng khách hàng.
Chất lượng dịch vụ là do khách hàng quyết định. Như vậy, chất lượng là phạm trù mang tính chủ quan, tuỳ thuộc vào nhu cầu, mong đợi của khách hàng. Do vậy, cùng một mức chất lượng dịch vụ nhưng đối với các khách hàng khác. nhau sẽ có cảm nhận khác nhau, ngay cả cùng một khách hàng cũng có cảm nhận khác nhau ở các giai đoạn phục vụ khác nhau.
Khải niệm: Giá trị cảm nhận Giá trị cảm nhận của khách hàng có thể được định nghĩa là kết quả so sánh mang tính cá nhân giữa tổng thể lợi ích nhận được và sw hi sinh hoặc chỉ phí phải trả bởi khách hàng (Zeithaml, 1988). Do đó, giá trị cảm nhận của khách hàng mang. tính chất chủ quan dựa trên cảm nhận của chính bản thân họ, chính khách hàng chứ. không ai khác, không phải nhà cung cấp, doanh nghiệp hay bắt cứ tô chức nào có.
thể đánh giá được sản phẩm hay dịch vụ có mang lại giá trị hay không. Nói cách khác, giá trị cảm nhận có nguồn gốc từ lý thuyết công bằng, xem xét tỷ lệ bỏ ra/thu lại của doanh nghiệp (Oliver and DeSarbo, 1988). Khách hàng có xu " hướng cảm thấy được đối xử công bằng khi họ cảm thấy giá trị bỏ ra/thu vào của họ tương đương với nhà cung cấp sản phẩm - dịch vụ và họ thường so sánh với đối thủ cạnh tranh để đánh giá tính công bằng này. Giá trị cảm nhận của khách hàng có ảnh hưởng rất lớn đến sự hải lòng cũng như lòng trung thành của khách hàng.
Nó góp phần quyết định hành vi mua hàng, khi giá trị sản phẩm, địch vụ được nhà cung cấp tạo nên một giá trị vượt trội so với những gì khách hàng mong đợi, khí đó giá trị cảm nhận được nâng cao, khả năng mua hàng cũng sẽ được nâng cao. Như vậy, giá trị cảm nhận ảnh hưởng tích cực đến hành vi và hành động mua hằng.