CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm có liên quan 1.1 Khái niệm động lực, động lực làm việc Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người: là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển. Nhu cầu là sự thiếu thốn và sự mất cân bằng nào đó buộc con người phải hoạt động để lấy lại sự cân bằng. Theo định nghĩa của Philip Kotler: Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được. Như vậy cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được đó là một trạng thái đặc biệt của con người, nó xuất hiện khi con người tồn tại, sự thiếu hụt ấy đòi hỏi phải được thỏa mãn, bù đắp.
Cho tới nay chưa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm nhu cầu. Các sách giáo khoa chuyên ngành hay các công trình nghiên cứu khoa học thường có những định nghĩa mang tính riêng biệt. Trong phạm vi nhận thức hiện tại có thể định nghĩa nhu cầu là “tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt của chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống. Nhu cầu tối thiểu nhất, hay còn gọi là nhu cầu tuyệt đối, đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiến hóa.
Chapman 1981), Tính đa dạng của đối tượng tạo nên sự vô hạn của nhu cầu. Alfred Marshall viết rằng: “Không có số để đếm nhu cầu và ước muốn” (Alfred Marshall 1902). Về vấn đề cơ bản của khoa học kinh tế – vấn đề nhu cầu con người – hầu hết các sách đều nhận định rằng nhu cầu không có giới hạn. Động lực là quá trình khởi tạo, hướng dẫn và duy trì các hành vi hướng tới mục tiêu.
Đó là nguyên nhân khiến bạn phải hành động, cho dù đó là uống một cốc nước để giảm cơn khát hay đọc một cuốn sách để thu thập kiến thức. SVTH: Nguyễn Hoàng Nhật 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hà Ngọc Thùy Liên Theo Bolton: “Động lực được định nghĩa như một khái niệm để mô tả các yếu tố được cá nhân nảy sinh, duy trì và điều chỉnh hành vi của mình theo hướng đạt được mục tiêu”. Động lực liên quan đến các lực lượng sinh học, tình cảm, xã hội và nhận thức kích hoạt hành vi.
Trong cách sử dụng hàng ngày, thuật ngữ "động lực" thường được sử dụng để mô tả lý do tại sao một người làm điều gì đó. Nó là động lực thúc đẩy hành động của con người. Động lực không chỉ đề cập đến các yếu tố kích hoạt hành vi; nó cũng liên quan đến các yếu tố chỉ đạo và duy trì các hành động hướng tới mục tiêu.1 Chuỗi mắc xích Nhu cầu - Mong muốn - Thỏa mãn Bản chất của động lực xuất phát từ nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu của con người. Động lực làm việc Động lực làm việc là một tập hợp các lực năng lượng bắt nguồn cả bên trong cũng như bên ngoài con người của một cá nhân, để khởi tạo hành vi liên quan đến công việc và xác định hình thức, phương hướng, cường độ và thời gian của nó (Pinder 1998, trang 11).
Theo Robbins (1993), động lực làm việc là sự sẵn lòng thể hiện mức độ cao của những nỗ lực để hướng đến các mục tiêu của tổ chức trên cơ sở thỏa mãn những nhu cầu của cá nhân. Theo Mitchell (1982), động lực thể hiện quá trình tâm lý tạo ra sự thức tỉnh, định hướng và kiên trì thực hiện các hoạt động tự nguyện nhằm đạt được mục tiêu. SVTH: Nguyễn Hoàng Nhật 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hà Ngọc Thùy Liên Greenberg & Baron (2000) chia động lực thành ba phần chính.
Phần thứ nhất hướng vào những kích thích có liên hệ với phần cứng hay năng lượng phía sau mỗi hành động cá nhân. Mọi người được định hướng bởi mối quan tâm của họ đến việc tạo ấn tượng tốt cho người khác, làm các công việc thú vị và thành công với những công việc họ làm. Phần thứ hai đề cập đến những người lựa chọn và chỉ đạo hành vi họ thực hiện. Phần thứ ba liên quan đến hành vi duy trì, xác định rõ ràng việc mọi người phải mất bao nhiêu thời gian trong việc duy trì nỗ lực để đạt được mục tiêu của mình.
Còn theo Campbell & Pritchard (1976) động lực làm việc bao gồm một bộ mối quan hệ đa dạng phụ thuộc và không phụ thuộc vào nhau mà nó giải thích phương hướng, kỹ năng, sự hiểu biết về những nhiệm vụ và cả hoạt động mà các cá nhân miễn cưỡng phải thực hiện trong môi trường làm việc. Động lực làm việc cũng đề cập đến trạng thái tâm lý cơ bản đưa đến cách ứng xử, hành vi của các người lao động. Nói chung động lực làm việc chính là một nhu cầu, mong muốn hay khao khát mà nó diễn ra bên trong mỗi người lao động khiến cho họ biểu hiện ra thành hành vi nào đấy. Động lực làm việc là một trạng thái phức tạp bên trong và tác động đến hành vi con người, tuy nhiên chúng ta không thể quan sát một cách trực tiếp.
Carr (2005) mô tả động lực làm việc là một sự thúc đẩy từ bên trong, dựa trên nền tảng là các nhu cầu cơ bản một cách có ý thức và vô thức của một cá nhân mà chính điều đó dẫn dắt người lao động làm việc để đạt được mục tiêu. Daft (2006) không chỉ nhận thấy động lực làm việc là sức mạnh bên trong mà còn là sức mạnh bên ngoài hoặc là gồm cả hai sức mạnh đó mà nó đưa đến những hành động kiên trì đến khi đạt được mục tiêu đề ra. Mục tiêu đó là thỏa mãn một hay nhiều nhu cầu của bản thân và nhu cầu này có sự khác biệt giữa trạng thái kỳ vọng và trạng thái thực tế. Từ những quan điểm trên, ta có thể phân động lực thành hai yếu tố cấu thành căn bản: động lực xuất phát từ nội tại và động lực xuất phát từ bên ngoài.
Theo Warr, Cook & Wall (1979) động lực nội tại chính là nhu cầu hoàn thành, thành công và hài lòng trong công việc của cá nhân. Động lực thể hiện mong muốn làm tốt công việc của cá nhân nhằm thỏa mãn chính mình. Theo Amabile (1993) cá nhân có động lực làm việc khi họ tìm kiếm niềm vui, mối quan tâm, thỏa mãn trí tò SVTH: Nguyễn Hoàng Nhật 12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hà Ngọc Thùy Liên mò, tự thể hiện và muốn có thử thách trong công việc.
Còn Deci (1975) cho rằng nhân viên muốn làm việc để hiểu được khả năng của mình và tự quyết trong công việc. Khi bị thúc đẩy bởi động lực bên trong, nhân viên hoàn thành công việc của mình chủ yếu chỉ vì sự thích thú, say mê công việc đó và có xu hướng chấp nhận những khó khăn, thách thức, thậm chí tạm thời thất bại để thành công. Theo Amabile (1993) động lực bên ngoài được thúc đẩy bởi những yếu tố và nguồn lực từ bên ngoài nhằm kích thích hiệu quả làm việc của cá nhân. Các yếu tố đó có thể là khen thưởng, phản hồi công việc, hoạt động giám sát, thăng tiến.
Khi bị thúc đẩy bởi động lực bên ngoài, nhân viên thường không hoặc ít hứng thú công việc cụ thể đó, nhưng vẫn hoàn thành công việc, chủ yếu để nhận được một phần thưởng nào đó (lương, thưởng, khen ngợi,…) hoặc để tránh một hệ quả tiêu cực (tránh bị phạt, bị phê bình, khiển trách, mất việc,…) (Deci, 1975). Tuy có rất nhiều quan điểm khác nhau về động lực làm việc, nhưng chúng ta có thể thấy động lực làm việc của nhân viên là một mối quan hệ ảnh hưởng đến nhau giữa cá nhân và tổ chức. Theo Owusu (2012), những thành tích của cá nhân và mục tiêu của tổ chức là những quá trình độc lập được liên kết bởi động lực làm việc của nhân viên; những cá nhân thúc đẩy bản thân để thỏa mãn những mục tiêu của tổ chức cũng phù hợp với mục tiêu cá nhân họ. Nghĩa là những mục tiêu của tổ chức tương xứng với những mục tiêu của cá nhân.
Tóm lại, có thể hiểu động lực làm việc như sau: Động lực làm việc là những gì thúc đẩy chúng ta làm việc, sự khát khao và tự nguyện của mỗi cá nhân nhằm phát huy, nỗ lực để hướng bản thân đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu của tổ chức. Động lực làm việc được thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi người lao động đang đảm nhiệm và thái độ của họ đối với tổ chức. Điều này có nghĩa mỗi cá nhân trong công việc của họ có động lực riêng, mỗi người lao động đảm nhiệm những công việc khác nhau có thể có những động lực khác nhau để bản thân làm việc SVTH: Nguyễn Hoàng Nhật 13 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hà Ngọc Thùy Liên tích cực và nỗ lực hơn.
Động lực làm việc được gắn liền với một công việc, một tổ chức và một môi trường làm việc cụ thể. Động lực làm việc không chỉ phụ thuộc vào những đặc điểm tính cách cá nhân mà còn có thể thay đổi thường xuyên phụ thuộc vào các nhân tố khách quan trong công việc. Tại thời điểm này là một lao động có thể có động lực làm việc rất cao nhưng vào một thời điểm khác động lực làm việc chưa chắc đã còn trong họ, chẳng hạn như sự thay đổi môi trường làm việc… Động lực làm việc mang tính tự nguyện của bản thân người lao động, họ thường chủ động làm việc hăng say khi cảm thấy thích thú, thoải mái và không có áp lực nào trong công việc. Khi bản thân làm việc một cách chủ động và tự nguyện thì người lao động có thể đạt được năng suất lao động cao nhất.
Trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi của công ty như: nguồn vốn, công nghệ, kỹ thuật… Thì động lực làm việc là nguồn gốc dẫn đến tăng năng suất lao động cá nhân và từ đó hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh được nâng cao. Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng không phải cứ có động lực làm việc là dẫn đến tăng năng suất lao động cá nhân vì điều đó còn phụ thuộc vào rất nhiều các nhân tố khác như: trình độ, tay nghề của người lao động, thiết bị, công cụ lao động và nguồn lực để thực hiện công việc.