phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bố cục của bài luận văn được chia thành 3 chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về xúc tiến xuất khẩu hàng hóa của một Quốc gia Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động xúc tiến thúc đẩy xuất khẩu cà phê của Việt Nam Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp nhằm tăng cƣờng xúc tiến xuất khẩu cà phê của Việt Nam 5 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÚC TIẾN XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA MỘT QUỐC GIA 1. Khái niệm, phân loại và vai trò về xúc tiến xuất khẩu của một Quốc gia 1. Khái niệm xúc tiến xuất khẩu Khái niệm xúc tiến thương mại Cho đến nay có rất nhiều khái niệm về xúc tiến thương mại Jerome và Wiliam định nghĩa về xúc tiến thương mại trong cuốn Essentinal Marketing như sau: “Xúc tiến thương mại là việc chuyển tin giữa người bán và người mua hay những khách hàng tiềm năng khác nhằm tác động vào hành vi quan điểm mua hàng.
Chức năng XTTM chính của nhà quản trị Marketing là mách bảo khách hàng mục tiêu biết đúng sản phẩm, đúng chỗ, đúng giá”. Tạp chí Bussines Today định nghĩa một cách đơn giản là: “Xúc tiến thương mại và hỗ trợ kinh doanh là việc doanh nghiệp sử dụng rộng rãi các kỹ thuật thuyết phục khách hàng khác nhau, để được liên hệ với thị trường mục tiêu và tất cả công chúng”. Giáo trình lý luận và nghệ thuật ứng xử trong kinh doanh của khoa Marketing Trường đại học KTQD cho rằng: “Xúc tiến thương mại là các biện pháp và nghệ thuật mà các nhà kinh doanh dùng để thông tin về hàng hóa, tác động tới người mua, lôi kéo người mua về phía mình và các biện pháp hỗ trợ cho bán hàng. Xúc tiến thương mại bao gồm ba nội dung chính: quảng cáo, các hoạt động yểm trợ, xúc tiến bán hàng”.
Theo điều 3 luật thương mại Việt Nam năm 2005 định nghĩa như sau: “Xúc tiến thương mại là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ và hội trợ, triển lãm thương mại. Định nghĩa này mới chỉ nhấn mạnh những hoạt động xúc tiến thương mại gắn trực tiếp tới việc tiêu thụ hàng hóa, chưa đề cập đến những hoạt động gián tiếp như cung cấp thông tin, khảo sát thị 6 trường, tư vấn sản xuất kinh doanh, đào tạo kỹ năng xúc tiến,… nhưng có ảnh hưởng không nhỏ đến sự thành công của hoạt động mua bán hàng hóa. Hiện nay, để có chính sách quản lý phù hợp và sự đầu tư hiệu quả cho hoạt động XTTM, người ta phân loại XTTM theo các tiêu chí cụ thể khác nhau như: Theo chủ thể thực hiện, XTTM bao gồm XTTM của thương nhân, XTTM của chính phủ và các tổ chức phi chính phủ. Theo phạm vi thực hiện bao gồm: XTTM trong nước và XTTM nước ngoài.
Theo đối tượng tác động, XTTM được chia thành: XTTM nội địa và XTTM quốc tế. Trong đó , theo quan niệm truyền thống, XTTM quốc tế bao gồm hoạt động xúc tiến xuất khẩu và hoạt động xúc tiến nhập khẩu. Ở nhiều nước đang phát triển cũng như ở Việt Nam hiện nay, quan niệm và việc thực hiện các hoạt động XTTM quốc tế thực chất là hoạt động XTXK. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế diễn ra ngày càng sâu rộng, mối quan hệ giữa thương mại quốc tế và đầu tư quốc tế ngày càng chặt chẽ, đặc biệt là với các nước phát triển như: Mỹ, Nhật,… XTTM quốc tế được hiểu theo nghĩa rộng hơn, bao gồm: XTXK, XTNK và xúc tiến đầu tư nước ngoài.
Đây là quan điểm phù hợp với định nghĩa của trung tâm thương mại quốc tế ITC về XTTM quốc tế: “ Xúc tiến thương mại quốc tế (International trade promation) của một quốc gia là hoạt động trợ giúp của chính phủ của một nước nói chung và các tổ chức xúc tiến thương mại nói riêng nhằm thúc đẩy các hoạt động thương mại quốc tế như đầu tư nước ngoài, xuất khẩu và nhập khẩu của nước đó với cộng đồng quốc tế”. Khái niệm về xúc tiến xuất khẩu Từ những phân tích trên có thể thấy, XTXK là một bộ phận của XTTM quốc tế. Cho đến nay có nhiều định nghĩa khác nhau về XTXK như: Theo Serringhaus và Rosson (1990): Xúc tiến xuất khẩu được hiểu là những công cụ của chính sách nhằm thúc đẩy trực tiếp hay gián tiếp đến các hoạt động xuất khẩu ở cấp độ doanh nghiệp, một ngành công nghiệp hay ở cấp độ một quốc gia”. Xúc tiến xuất khẩu theo đó bao gồm những biện pháp nâng cao nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp về vai trò của xuất khẩu như một động lực của sự tăng 7 trưởng, thông tin cho họ về những cơ hội để mở rộng thị trường, làm thuận lợi hóa quá trình xuất khẩu bằng cách giảm thiểu các hàng rào cản trở quá trình này, đồng thời thiết lập và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu hay những nhà xuất khẩu “tiềm năng”.
Theo đó thì xúc tiến xuất khẩu được chia làm ba loại chính: Các chính sách đề cao nhận thức và khích lệ các doanh nghiệp tham gia vào xuất khẩu (motivation). Những biện pháp chính sách làm thuận lợi hóa chu trình tác nghiệp trong hoạt động sản xuất - xuất khẩu, marketing hàng xuất khẩu…(operation). Các hỗ trợ và dịch vụ cung cấp cho doanh nghiệp để thúc đây hoạt động xuất khẩu (information). Trong tạp chí của trung tâm xúc tiến nhập khẩu từ các nước đang phát triển (CBI) Hà Lan tháng 12/1993, ông H.Leerrenveld, giám đốc điều hành đã viết: “ Xúc tiến xuất khẩu là những dịch vụ được chính phủ của một nước cung cấp để đáp ứng nhu cầu của các nhà xuất khẩu với mục tiêu nhằm đẩy mạnh sự tăng trưởng của xuất khẩu”.
Tập đoàn tư vấn Boston (Boston Consulting Group) định nghĩa “Xúc tiến và phát triển xuất khẩu (export development and promotion) là những sự lựa chọn mang tính chiến lược và những chương trình liên quan của chính phủ, có thể trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các đại diện, thực hiện để tăng số lượng các nhà xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu và thu nhập lợi ích từ xuất khẩu (cả lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội) thông qua các chương trình nâng cao năng lực, các hỗ trợ vượt biên giới hoặc các hoạt động trên thị trường. Chuyên gia của Trung tâm Thương mại quốc tế (ITC) đưa ra cách hiểu về xúc tiến xuất khẩu dưới góc độ là một bộ phận của chiến lược phát triển xuất khẩu của một quốc gia. Xúc tiến xuất khẩu theo cách hiểu này bao gồm việc hình thành và cung cấp các dịch vụ xúc tiến xuất khẩu và thiết lập một cơ chế, mạng lưới thích hợp để dẫn truyền những chính sách đến các nhà xuất khẩu hiện tại và tiềm năng. “XTXK là các hoạt động được thiết kế để tăng xuất khẩu của một đất nước hay của một doanh nghiệp” - TS.
Nguyễn Thị Nhiễu (XTXK của chính phủ cho các 8 doanh nghiệp vừa và nhỏ). Đây là định nghĩa chung chung không đề cập tới chủ thể của hoạt động XTXK. Cụ thể các hoạt động XTXK của chính phủ được định nghĩa như sau: “ XTXK của Chính phủ là những biện pháp, chính sách của nhà nước có tác động trực tiếp hay gián tiếp, khuyến khích hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp, của các ngành và của đất nước”. Định nghĩa này đã cụ thể được nội dung của hoạt động XTXK và phạm vi tác động của nó.
Có thể nói đây là khái niệm bao hàm và toàn diện về XTXK của chính phủ và phù hợp với mục tiêu tăng cường các hoạt động XTXK và XTTM của các quốc gia trong điều kiện toàn cấu hóa và tự do hóa thương mại hiện nay. * Phân biệt khái niệm xuất khẩu và xúc tiến xuất khẩu Trên thực tế xuất khẩu, xúc tiến xuất khẩu và marketing xuất khẩu có mối quan hệ mật thiết với nhau. Cụ thể là xúc tiến xuất khẩu và marketing có tác động đến sự phát triển xuất khẩu và marketing xuất khẩu là một hình thức biểu hiện cụ thể của xúc tiến xuất khẩu (XTXK ở tầm vi mô hay doanh nghiệp). Về mặt khái niệm, xúc tiến xuất khẩu, xuất khẩu và marketing có những đặc điểm khách nhau nhất định.
Xúc tiến xuất khẩu và xuất khẩu Thông thường, xuất khẩu được hiểu là hoạt động bán hàng hóa hay dịch vụ cho nước ngoài để thu ngoại tệ. Theo điều 28 - Mục 1 - Chương II - Luật thương mại Việt Nam năm 2005: “ Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được coi là khu vực Hải quan riêng theo quy định của pháp luật ”. Xuất khẩu thuần túy là một nội dung của hoạt động thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng. Nhưng nếu muốn đẩy mạnh xuất khẩu thì đó lại là chức năng của XTTM mà cụ thể là XTXK.
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về XTXK nhưng mục đích của XTXK là đẩy mạnh xuất khẩu. Tất cả các hoạt động khuyến khích, thúc đẩy xuất khẩu trực tiếp hay gián tiếp, dù trước mắt hay lâu dài đều được coi là hoạt động xúc 9 tiến xuất khẩu. Do đó, có thể nói hoạt động XTXK không thể tách rời hoạt động xuất khẩu và nội dung, phạm vi của XTXK rộng hơn nhiều so với xúc tiến bán hàng chỉ là một trong 4P của chính sách marketing hỗn hợp (Product - Price - Place - Promotion). Xúc tiến xuất khẩu và marketing xuất khẩu: Quan niệm marketing hiện đại coi thị trường là khâu quan trọng nhất của quá trình tái sản xuất hàng hóa, nhu cầu của thị trường là mục tiêu của sản xuất kinh doanh và thỏa mãn nhu cầu của thị trường là yếu tố quyết định sự thành công của một tổ chức sản xuất kinh doanh.
Cụ thể, muốn sản phẩm của mình tiêu thụ được trên thị trường, nhà sản xuất phải tiến hành nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu tiêu dùng và chỉ tiến hành sản xuất những mặt hàng mà thị trường cần trong hiện tại và tương lai. Theo nhà kinh tế học Philip Kolter “Marketing là hoạt động nhằm vào việc thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của con người thông qua trao đổi hàng hóa và dịch vụ”, nghĩa là mục tiêu của hoạt động marketing là nhu cầu và mong muốn của con người, còn trao đổi là phương tiện của mục tiêu.