Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Bắc Mỹ Chương 3: Kết quả và đánh giá Chương 4: Kết luận và khuyến nghị 1. Khoảng trống nghiên c u 1. Khoảng trống về phạm vi Trên thế giới, trong khu vực và trong nước đã có một số công trình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu cà phê của doanh nghiệp. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu chủ yếu các mặt hàng chung như sản phẩm nông nghiệp, các mặt hàng nông sản, hoặc là sản phẩm gạo và cà phê nghiên cứu về doanh nghiệp xuất khẩu riêng cà phê không nhiều.
Các nghiên cứu trước về nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu cà phê của doanh nghiệp nằm trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến 2021, chưa được cập nhật tới 2022. Theo đó, các giải pháp và nhận định ở các bài nghiên cứu trước có thể không còn phù hợp với tình hình thực tế nhiều biến động như xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế toàn cầu, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế thị trường. Khoảng trống về nội dung Nghiên cứu cụ thể về hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp xuất khẩu cà phê, mà cụ thể là doanh nghiệp xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Bắc Mỹ một cách có hệ thống đến nay chưa có, các công trình trước đây chủ yếu nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp sản xuất nông sản nói chung. Hiện tại rất ít công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Bắc Mỹ theo cách tiếp cận phân tích nhân tố ảnh hưởng.
Mặc dù đây là thị trường quan trọng được quan tâm nhiều song hầu hết các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá khái quát về thực trạng, triển vọng, giá trị gia tăng,… và đề xuất giải pháp cho hoạt động xuất khẩu cà phê nói chung. Đồng thời, đứng ở góc độ quản lý kinh tế thì hiện 10 nay có ít nghiên cứu nào đi sâu phân tích, đánh giá và đưa ra những giải pháp từ phía cơ quan quản lý Nhà nước nhằm nâng cao kết quả xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê Việt Nam sang thị trường Bắc Mỹ. Khoảng trống về phương pháp nghiên cứu Hiện nay, các nghiên cứu định lượng về các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu cà phê của Việt Nam sang thị trường Bắc Mỹ vẫn còn khá ít, nhiều bài phân tích mới dừng lại ở thống kê mô tả, sử dụng mô hình trọng lực để nghiên cứu. Để bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn cho vấn đề này, thì bên cạnh các nghiên cứu định tính thì phân tích định lượng là cần thiết.
Điều này cho thấy, bài nghiên cứu của nhóm không chỉ đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra mà còn thể hiện được tính thời sự cao, giải quyết được một phần thiếu sót của các nghiên cứu trước đây. Khoảng trống về bối cảnh Trong bối cảnh Hiệp định thương mại giữa Việt Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực năm 2000, Hiệp định CPTPP năm 2019 tạo điều kiện mở rộng hợp tác thương mại Việt Nam – Mexico và Hiệp định Thương mại và Mậu dịch giữa Việt Nam và Canada năm 1995 đã mở ra cơ hội rất lớn cho các sản phẩm cà phê của Việt Nam sang thị trường Bắc Mỹ. Đặc biệt các Hiệp định này có ý nghĩa rất lớn trong tình hình dịch bệnh Covid bùng phát gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh tế, thương mại của các nước, trong đó có Việt Nam. Khoảng trống về đề tài nghiên cứu rất lớn bao gồm: phạm vi, nội dung, phương pháp nghiên cứu và bối cảnh.
Tuy nhiên, phạm vi của bài nghiên cứu chỉ tập trung đánh giá một số nhân tố chính ảnh hưởng tới xuất khẩu cà phê của Việt Nam xuất khẩu chính ngạch trong điều kiện bình thường. Những khoảng trống còn lại hi vọng sẽ có những nghiên cứu tiếp theo, chuyên sâu hơn để giải quyết các vấn đề còn tồn tại. Tóm lại, xuất khẩu là một hoạt động mang đến nguồn lực đóng góp lớn vào sự phát triển của mỗi quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống toàn xã hội. Là một quốc gia đang phát triển, xuất khẩu cà phê chiếm tỷ trọng lớn trong cán cân thương mại của Việt Nam.
Việc nghiên cứu hoạt động xuất khẩu cà phê ngày càng thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên, hiện rất ít các nghiên cứu được thực hiện dưới góc độ doanh nghiệp xuất khẩu cà phê sang thị trường Bắc Mỹ. 11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN XUẤT KHẨU CÀ PHÊ CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG BẮC MỸ 2. Cơ sở lý luận về cà phê 2.
Xuất khẩu Xuất khẩu hàng hoá là hoạt động đưa hàng hoá ra khỏi một nước (từ quốc gia này sang quốc gia khác) để bán trên cơ sở dùng tiền làm phương tiện thanh toán hoặc trao đổi lấy một hàng hoá khác có giá trị tương đương (Belay S. Nói một cách khái quát, xuất khẩu hàng hoá là việc đưa hàng hoá ra nước ngoài để thực hiện giá trị sử dụng và giá trị của hàng hoá. Xuất khẩu tăng trưởng cao là sự gia tăng về kim ngạch, giá trị xuất khẩu. Ngô Thị Mỹ & Trần Nhuận Kiên (201 ) cho rằng xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ thị trường nhằm mục đích khai thác lợi thế của đất nước trong phân công lao động quốc tế để đem lại lợi ích cho quốc gia.
Xuất khẩu nông sản là hoạt động trao đổi nông sản của một quốc gia với các nước khác trên thế giới dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ thị trường nhằm mục đích khai thác lợi thế sẵn có của đất nước trong phân công lao động quốc tế nhằm đem lại lợi ích cho quốc gia. Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh với phạm vi vượt ra khỏi biên giới quốc gia hoặc là hoạt động buôn bán của một nước với nước khác trên phạm vi quốc tế (Nguyễn Văn Tuấn, 2008). Đây không phải là hành vi mua bán đơn lẻ mà là cả hệ thống các quan hệ mua bán phức tạp có tổ chức cả bên trong lẫn bên ngoài nhằm thúc đẩy hàng hóa phát triển ổn định đem lại lợi ích cho quốc gia. Theo khoản 1, Điều 28, Chương 2 Luật Thương mại Việt Nam (2005), xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.
Hiểu theo cách khái quát, xuất khẩu là một hình thức bán hàng cho nước ngoài để thu về lợi nhuận cho doanh nghiệp và quốc gia. Có nhiều khái niệm khác nhau về xuất khẩu, dưới góc độ tiếp cận của bài nghiên cứu, xuất khẩu là hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ thị trường nhằm mục đích khai thác lợi thế của đất nước trong phân công lao động quốc tế để đem lại lợi ích cho quốc gia. Cà phê Cà phê (tiếng Pháp: café) là một loài thực vật có tên khoa là Coffea, thuộc họ Rubiaceae. Cây cà phê có nguồn gốc từ châu Phi và được trồng trên khắp thế giới với các khu vực trồng chính tại Brazil, Colombia, Ethiopia, Việt Nam, Indonesia và nhiều nơi khác.
Giống cây này được xuất khẩu từ châu Phi tới các nước trên thế giới và hiện nay đã được trồng tại tổng cộng hơn 70 quốc gia, chủ yếu là các khu vực nằm gần đường xích đạo thuộc châu Mỹ, Đông Nam Á, Ấn Độ và châu Phi. Cây cà phê là Hạt cà phê là nguyên liệu chính để sản xuất cà phê, một trong những thức uống phổ biến nhất trên toàn thế giới. Hạt cà phê được thu hoạch và chế biến theo nhiều phương pháp khác nhau, tùy thuộc vào địa điểm trồng và phương thức sản xuất. Cà phê là một ngành công nghiệp lớn trên toàn thế giới, tạo ra nguồn thu nhập cho hàng triệu người và có tác động đến nền kinh tế của nhiều quốc gia.
Trên thế giới có hơn 70 loại cà phê khác nhau nhưng người ta chủ yếu gieo trồng 2 nhóm cà phê chính là cà phê vối (Robusta), cà phê chè ( rabica) nhờ vào ưu điểm về năng suất và chất lượng ngoài ra còn dựa vào đặc điểm thích nghi của từng loại cây. Cà phê vối thích hợp với khí hậu khô ráo, nắng ấm, nhiệt độ thích hợp nhất là 24 - 2 độ C, độ cao khoảng 00 - 2000m, mật độ từ 1200 - 1500 cây/ha. Cà phê Robusta có hình quả trứng hoặc hình tròn, quả chín có màu thẫm, vỏ cứng và thường chín từ tháng 2. Đặc biệt cây cà phê này không ra hoa kết quả tại các mắt của cành.
Nhân hơi tròn, to ngang, vỏ lụa màu ánh nâu bạc. Loại cà phê này được trồng nhiều nhất ở Châu Phi và Châu á trong đó Việt Nam và Indonesia là hai nước sản xuất cà phê lớn nhất thế giới. Cà phê rabica ưa khí hậu mát mẻ có khả năng chịu rét, thường được trồng ở độ cao trên dưới 200m. rabica có nhiều tàn lá, hình trứng hoặc hình lưỡi mác.
Quả của loại cà phê chè có hình quả trứng hoặc hình tròn, có màu đỏ tươi, một số giống khi chín có màu vàng. Loại cà phê này chủ yếu trồng ở Brazil và Colombia với mùi thơm được nhiều nước ưa chuộng. Trong thương mại xuất nhập khẩu hiện nay, mặt hàng cà phê được phân loại theo hệ thống HS của WCO (Tổ chức Hải quan thế giới) gồm 02 nhóm: nhóm cà phê, trà, maté và gia vị - HS 09 nhóm các chế phẩm ăn được khác - HS 21 (Tổng cục Hải quan, 2020). Xuất khẩu cà phê Xuất khẩu cà phê là việc xuất khẩu mà mặt hàng được xuất khẩu ở đây là hạt cà phê.
Trong thương mại xuất nhập khẩu hiện nay, mặt hàng cà phê được phân loại theo 13 hệ thống HS của Hải quan quốc tế bao gồm 02 nhóm: nhóm cà phê, trà, maté và gia vị - HS 09 nhóm các chế phẩm ăn được khác - HS 21 (Tổng cục Hải quan, 2020).