Luận án tiến sĩ xuất khẩu lao động chất lượng cao của việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Khám phá luận án tiến sĩ về xuất khẩu lao động chất lượng cao của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và những thách thức hiện tại.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Kinh tế quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

193
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CHẤT LƯỢNG CAO

1.1. Các nghiên cứu ngoài nước

1.2. Các nghiên cứu trong nước

1.3. Các vấn đề rút ra từ tổng quan tình hình nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CHẤT LƯỢNG CAO

2.1. Những vấn đề lý luận chung về xuất khẩu lao động chất lượng cao

2.2. Xuất khẩu lao động chất lượng cao trong hội nhập kinh tế quốc tế

2.3. Kinh nghiệm xuất khẩu lao động chất lượng cao của một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CHẤT LƯỢNG CAO CỦA VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ

3.1. Hoạt động xuất khẩu lao động chất lượng cao của Việt Nam giai đoạn 2007-2018

3.2. Đánh giá quá trình xuất khẩu lao động chất lượng cao của Việt Nam giai đoạn 2007-2018

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CHẤT LƯỢNG CAO CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

4.1. Dự báo tình hình kinh tế - xã hội trong và ngoài nước ảnh hưởng đến xuất khẩu lao động chất lượng cao của Việt Nam trong bối cảnh quốc tế mới

4.2. Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu lao động chất lượng cao của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

4.3. Một số kiến nghị

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về xuất khẩu lao động chất lượng cao

Xuất khẩu lao động chất lượng cao của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu kinh tế. Xuất khẩu lao động không chỉ giúp giải quyết việc làm cho người lao động mà còn tạo ra nguồn thu ngoại tệ cho quốc gia. Theo thống kê, Việt Nam hiện có hơn 550.000 lao động đang làm việc tại 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng kiều hối hàng năm đạt khoảng 2,5 tỷ USD. Tuy nhiên, chất lượng lao động xuất khẩu vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của các thị trường lao động quốc tế. Điều này đòi hỏi cần có những chính sách và giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng lao động và tăng cường khả năng cạnh tranh của lao động Việt Nam trên thị trường quốc tế.

1.1. Tầm quan trọng của xuất khẩu lao động chất lượng cao

Xuất khẩu lao động chất lượng cao đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Nó không chỉ giúp giải quyết vấn đề việc làm mà còn nâng cao thu nhập cho người lao động. Hơn nữa, việc xuất khẩu lao động còn tạo cơ hội cho người lao động tiếp cận với công nghệ tiên tiến và nâng cao tay nghề. Theo các chuyên gia, việc phát triển lao động chất lượng cao sẽ giúp Việt Nam tận dụng tốt hơn các cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế. Điều này cũng đồng nghĩa với việc cần có những chính sách hỗ trợ và đào tạo phù hợp để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động quốc tế.

II. Thực trạng xuất khẩu lao động chất lượng cao của Việt Nam

Thực trạng xuất khẩu lao động chất lượng cao của Việt Nam trong giai đoạn 2007-2018 cho thấy sự phát triển mạnh mẽ nhưng cũng tồn tại nhiều thách thức. Mặc dù số lượng lao động đi làm việc ở nước ngoài tăng lên, nhưng chất lượng lao động vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của các thị trường khó tính như Nhật Bản và Hàn Quốc. Nhiều lao động Việt Nam vẫn còn thiếu kỹ năng và trình độ chuyên môn cần thiết. Theo báo cáo của Cục Quản lý lao động ngoài nước, trong năm 2019, tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài đạt khoảng 148.000 người, nhưng chất lượng lao động vẫn là vấn đề cần được cải thiện. Điều này cho thấy cần có những giải pháp cụ thể để nâng cao chất lượng lao động và tăng cường khả năng cạnh tranh của lao động Việt Nam trên thị trường quốc tế.

2.1. Những thách thức trong xuất khẩu lao động

Một trong những thách thức lớn nhất đối với xuất khẩu lao động chất lượng cao của Việt Nam là sự thiếu hụt về kỹ năng và trình độ chuyên môn của lao động. Nhiều lao động chưa được đào tạo bài bản, dẫn đến việc không đáp ứng được yêu cầu của các nhà tuyển dụng nước ngoài. Bên cạnh đó, tình trạng lao động bỏ hợp đồng, trốn ở lại nước ngoài cũng gây ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh của lao động Việt Nam. Để khắc phục những vấn đề này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và các tổ chức đào tạo để nâng cao chất lượng đào tạo và đảm bảo quyền lợi cho người lao động.

III. Giải pháp nâng cao xuất khẩu lao động chất lượng cao

Để đẩy mạnh xuất khẩu lao động chất lượng cao, Việt Nam cần thực hiện một số giải pháp quan trọng. Trước hết, cần tăng cường công tác đào tạo và nâng cao kỹ năng cho lao động. Các chương trình đào tạo cần được thiết kế phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động quốc tế. Thứ hai, cần xây dựng các chính sách hỗ trợ cho người lao động, bao gồm cả việc cung cấp thông tin về thị trường lao động và các cơ hội việc làm. Cuối cùng, việc tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực xuất khẩu lao động cũng là một yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng lao động và mở rộng thị trường xuất khẩu.

3.1. Đào tạo và nâng cao kỹ năng lao động

Đào tạo và nâng cao kỹ năng cho lao động là một trong những giải pháp quan trọng nhất để nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu. Các cơ sở đào tạo cần phải cập nhật chương trình giảng dạy để phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động quốc tế. Đồng thời, cần có các chương trình thực tập và trải nghiệm thực tế cho sinh viên để họ có thể làm quen với môi trường làm việc thực tế. Việc này không chỉ giúp nâng cao kỹ năng mà còn tạo cơ hội cho lao động Việt Nam có thể tự tin hơn khi tham gia vào thị trường lao động quốc tế.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ xuất khẩu lao động chất lượng cao của việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CHẤT LƯỢNG CAO 1. Các nghiên cứu ngoài nước 1. Các công trình nghiên cứu về xuất khẩu lao động Ở ngoài nước, các công trình nghiên cứu về di cư lao động quốc tế (international migration) đã xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX, trong đó có thể kể tới một số công trình nghiên cứu gần đây nhất của các tổ chức như Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD - Organization for Economic Cooperation and Development), Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM - International Organization for Migration), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO - International Labour Organization). Cụ thể như sau: Báo cáo Impact of Migration on Economic and Social Development: A review of evidence and emerging issues, World Bank (2010), tạm dịch là “Tác động của di cư đối với phát triển kinh tế và xã hội: Tổng quan bằng chứng và các vấn đề mới xuất hiện”, đã cung cấp tổng quan về tác động phát triển của di cư và kiều hối tại nước xuất cư và nước nhập cư ở bán cầu nam.

Báo cáo khẳng định rằng, di cư quốc tế có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển của nước xuất cư và nước nhập cư. Đối với nước xuất cư, nó góp phần tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ giáo dục và chăm sóc sức khỏe, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế. Tuy nhiên, nó cũng gây nhiều hệ lụy về mặt xã hội đối với những lao động di cư và gia đình của họ. Báo cáo còn tổng hợp một số thảo luận liên quan đến tác động của di cư đối với biến đổi khí hậu, giá trị dân chủ, nhân khẩu học, bản sắc dân tộc và an ninh quốc gia [89].

OECD (2016), International Migration Outlook 2016, Triển vọng di cư quốc tế năm 2016 phân tích những phát triển gần đây trong các phong trào di cư và chính sách ở các nước OECD và các nước không thuộc OECD, và xem xét sự phát triển thị trường lao động nhập cư vào các nước OECD trong thời gian gần đây. Báo cáo bao gồm hai chương đặc biệt: "Tác động kinh tế của di cư: Tại sao cấp địa phương lại quan trọng" và "Di cư quốc tế sau các cú sốc về môi trường và địa chính trị: Các 9 luan an nước OECD phản ứng như thế nào?". Ngoài ra, còn có các phần ghi chú quốc gia và phụ lục thống kê [86]. OECD (2017), International Migration Outlook 2017, Triển vọng di cư quốc tế năm 2017 phân tích những tiến triển gần đây trong hoạt động di cư và chính sách di cư tại các nước là thành viên của OECD và một số nước chọn lọc không phải là thành viên.

Theo đó, báo cáo nghiên cứu tác động của hoạt động di cư nhân đạo ngày càng gia tăng hiện nay. Đồng thời, báo cáo xem xét, đánh giá những biến động trong kết quả thị trường lao động của người nhập cư tại các nước OECD, trong đó trọng tâm vào việc tạo công ăn việc làm trong trung hạn và những hàm ý về mặt thay đổi cấu trúc trong thị trường lao động. Ngoài ra, báo cáo còn có 1 chương về gia đình di cư, coi đó là một phần quan trọng trong hoạt động di cư và chính sách quản lý di cư [87]. OECD (2018), International Migration Outlook 2018, Triển vọng di cư quốc tế năm 2018 phân tích những tiến triển gần đây trong hoạt động di cư và chính sách di cư của các nước là thành viên OECD và một số nước không phải là thành viên của tổ chức này.

Báo cáo còn phân tích tiến triển của kết quả thị trường lao động di cư ở các nước OECD, tập trung vào chất lượng công ăn việc làm của người di cư và các ngành, nghề mà họ tập trung làm việc. Ngoài ra, báo cáo còn có 2 chương đặc biệt về đóng góp của các dòng người tị nạn gần đây đối với lực lượng lao động và việc làm bất hợp pháp của lao động nước ngoài [88]. IOM (2013), World Migration Report 2013: Migration Well-being and Development, Switzerland, Báo cáo Di cư Thế giới năm 2013 với chủ đề Di cư: Chất lượng cuộc sống và phát triển bao gồm 5 chương. Báo cáo đã tập trung vào một số điểm nhấn về di cư và chương trình phát triển, các khuynh hướng di cư, đặc biệt là có phần tổng quan các nghiên cứu về di cư, hạnh phúc và chất lượng cuộc sống, các khía cạnh của chất lượng cuộc sống của lao động di cư.

Cuối cùng, báo cáo đưa ra kết luận rằng vấn đề lao động di cư cần được xác định là vấn đề trọng tâm; sự phát triển ở đây không nằm ngoài cái gì khác hơn là cải thiện chất lượng sống của con người; di cư nhằm mục tiêu cải thiện sự phát triển con người và đạt được các cấp độ thỏa mãn về chất lượng cuộc sống [75]. IOM (2015), World Migration Report 2015 – Migrants and Cities: New Partnerships to Manage Mobility, Báo cáo Di cư Thế giới năm 2015 với chủ đề Di 10 luan an cư và các thành phố: Mối quan hệ mới để quản lý di cư gồm 5 chương. Hai chương đầu tiên của báo cáo đã đưa ra các xu hướng chính trong các thành phố và di cư, khảo sát các khu vực đô thị khác nhau có kinh nghiệm về phát triển các dòng di cư trong nước hoặc quốc tế hoặc thậm chí cả hai, làm nổi bật các dòng di cư đa dạng. Chương 3 xem xét các khía cạnh về các tổn thương đô thị nói chung - các chiến lược sinh kế và di động, các rào cản đối với việc tiếp cận các nguồn lực và các hình thức dễ bị tổn thương cụ thể vì chúng ảnh hưởng đến những nhóm người có nguy cơ cao nhất, bao gồm phụ nữ di cư.

Chương 4 khảo sát cách thức đô thị hoá và các mô hình di cư mới có thể góp phần giảm nghèo, tăng trưởng và phát triển đô thị và nâng cao phúc lợi cho người di cư. Chương 5 nghiên cứu một số điều kiện quản lý đô thị cho chính quyền địa phương và sự hợp tác của người nhập cư [76]. IOM (2018), World Migration Report 2018, Báo cáo Di cư Thế giới năm 2018, là báo cáo thứ 9 trong xê ri các báo cáo về di cư quốc tế của IOM. Báo cáo này được chia ra làm 2 phần lớn, gồm 10 chương.

Phần thứ nhất với chủ đề “các dữ liệu và thông tin chính về di cư”, bao gồm 3 chương liên quan đến các xu hướng di cư toàn cầu; di cư dưới góc độ khu vực và những nghiên cứu và phân tích gần đây về di cư. Phần thứ hai về “các vấn đề di cư phức tạp mới xuất hiện”, bao gồm 6 chương, tập trung vào các vấn đề như quản trị di cư toàn cầu; sự di chuyển, di cư và liên kết xuyên quốc gia; tìm hiểu hành trình di cư từ góc độ của người di cư; truyền thông về di cư và người di cư; di cư, bạo lực cực đoan và loại trừ xã hội; và bổ sung thêm các thông tin liên quan đến người di cư và thành phố của báo cáo di cư thế giới 2015 [77]. ILO (2013), Global Employment Trends 2013: Recovering from a Second Jobs Dip, Switzerland, Báo cáo Xu hướng việc làm Toàn cầu năm 2013: Hồi phục từ suy thoái việc làm là một công trình nghiên cứu về xu hướng việc làm toàn cầu, 11 luan an trong đó chỉ ra rằng trong năm 2012 cả tốc độ phát triển và tỷ lệ có việc làm đều giảm, có hơn 4 triệu người thất nghiệp. Báo cáo nghiên cứu cuộc khủng hoảng thị trường lao động ở cả các nước đang phát triển và các nước phát triển, trong đó tâm chấn của cuộc khủng hoảng nằm ở các nước phát triển nhưng suy thoái kép tại các quốc gia này đã có tác động đáng kể vào thị trường lao động tại các nước đang phát triển.

Báo cáo ước tính các chỉ số định lượng và định tính của thị trường lao động toàn cầu và khu vực, thảo luận các yếu tố kinh tế vĩ mô tác động tới thị trường lao động để từ đó tìm ra các chính sách phù hợp. Bên cạnh đó, khi xem xét các tác động của chính sách kinh tế vĩ mô trên thị trường lao động, báo cáo xem xét thông tin phản hồi tiêu cực từ hộ gia đình, các doanh nghiệp, thị trường vốn và ngân sách công cộng. Báo cáo cho thấy sự mất cân đối vĩ mô được thể hiện một cách khá rõ ràng trên thị trường lao động. Tổng cầu giảm sút, thị trường lao động lại chịu nhiều tác động tiêu cực hơn do các chính sách thắt lưng buộc bụng của các chính phủ.

Trong chương cuối, báo cáo đưa ra khuyến nghị cần xem xét lại các chính sách nhằm đạt được sự phục hồi bền vững trong năm 2013 và những năm tới [66]. Từ năm 2015, báo cáo Xu hướng Việc làm Toàn cầu đã được thay thế bởi một báo cáo hàng năm khác của ILO, có tên là World Employment and Social Outlook (WESO): Trends (Việc làm thế giới và triển vọng xã hội: Xu hướng). Các báo cáo WESO này đã tập trung vào rất nhiều vấn đề liên quan đến công ăn việc làm, cụ thể như sau: ILO (2015), World Employment and Social Outlook: Trends 2015, ILO, Báo cáo này đã đưa ra dự báo về tình trạng thất nghiệp toàn cầu ngày càng gia tăng và giải thích các nhân tố đứng đằng sau xu hướng này, ví dụ như tình trạng bất bình đẳng tiếp diễn hay mức lương ngày càng sụt giảm. Báo cáo còn nghiên cứu động lực gia tăng tầng lớp trung lưu tại các nước đang phát triển cũng như rủi ro về tình trạng bất ổn xã hội, đặc biệt là ở những khu vực có thanh niên thất nghiệp ngày càng tăng.

Ngoài ra, báo cáo còn nghiên cứu các nhân tố về mặt cấu trúc định hình 12 luan an việc làm thế giới, bao gồm tình trạng già hóa dân số và việc những chủ sử dụng lao động ngày càng có xu hướng tuyển dụng lao động có tay nghề và có kỹ năng hơn [68], [69]. ILO (2016), World Employment and Social Outlook: Trends 2016, ILO, Báo cáo này đã cung cấp một cách khái quát xu hướng việc làm, thất nghiệp và tình trạng tham gia vào lực lượng lao động cũng như hàng loạt các vấn đề khác liên quan đến chất lượng việc làm trên phạm vi toàn cầu, các khu vực lớn cũng như các ngành nghề chủ yếu. Báo cáo chỉ ra rằng, mức độ mở rộng nền kinh tế thế giới là không đủ để thu hẹp khoảng cách giữa công ăn việc làm và cách biệt xã hội xuất hiện từ giai đoạn đầu cuộc khủng hoảng toàn cầu năm 2008.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ về xuất khẩu lao động chất lượng cao của Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế

Bài viết này trình bày về xuất khẩu lao động chất lượng cao của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Tác giả đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu lao động chất lượng cao và đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng xuất khẩu lao động của Việt Nam.

Bài viết này cung cấp thông tin hữu ích cho những người quan tâm đến vấn đề xuất khẩu lao động chất lượng cao của Việt Nam. Để tìm hiểu thêm về chủ đề này, bạn có thể tham khảo các bài viết sau:

Luận án tiến sĩ về quản lý đào tạo lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong bối cảnh hội nhập quốc tế của Phạm Tùng Lâm, Luận án tiến sĩ về hiện đại hóa hải quan Việt Nam trong hội nhập quốc tế của Trần Văn Tráng và Luận văn về quản lý nhà nước đối với tôn giáo: Thực trạng và giải pháp hiệu quả của các tác giả khác.

Tất cả các bài viết này đều có liên quan đến chủ đề quản lý nhà nước và hội nhập kinh tế quốc tế, và cung cấp thông tin hữu ích cho những người quan tâm đến vấn đề này.