Chương 1: Cơ sở lý luận về giải quyết việc làm qua kênh xuất khẩu lao động Chương 2: Thực trạng giải quyết việc làm qua kênh xuất khẩu lao động ở huyện Nam Đàn, Nghệ An Chương 3: Một số giải pháp tăng cường giải quyết việc làm qua kênh XKLĐ trên địa bàn huyện Nam Đàn, Nghệ An 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM QUA KÊNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1.Lao động, việc làm và giải quyết việc làm 1.Lao động Có rất nhiều quan niệm khác nhau về lao động, mỗi quan điểm đều có những lý lẽ, điểm tích cực và hạn chế riêng. Tuy nhiên, các quan điểm đều có điểm chung rằng lao động là quá trình hoạt động có mục đích của con người để tạo ra những sản phẩm phục vụ cuộc sống của con người. Trong đó có những sản phẩm bao gồm cả sản phẩm là văn hóa, tinh thần hay sản phẩm là của cải vật chất. Trong giáo trình Phân tích lao động xã hội của khoa Kinh tế lao động- Trường ĐH Kinh tế quốc dân, lao động được định nghĩa: "Lao động là hoạt động có mục đích của con người, thông qua hoạt động đó con người tác động vào giới tự nhiên, cải biến chúng thành những vật có ích phục vụ nhu cầu của con người".
Khái niệm này nhấn mạnh nhiều vào hoạt động sản xuất vật chất tạo của cải vật chất phục vụ nhu cầu vật chất của con người nói riêng và sự phát triển của xã hội nói chung. Thực tế, hoạt động lao động của con người được thực hiện trên nhiều lĩnh vực hết sức phong phú và đa dạng, như nghiên cứu khoa học, hoạt động văn hoá nghệ thuật.Vì vậy, khái niệm này chưa thể hiện rõ được hết các hoạt động lao động của con người. Trong giáo trình: Kinh tế học chính trị Marx– Lenin, lao động được nhận định: "Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ các nhu cầu của đời sống con người" Khái niệm này đã bao quát và đầy đủ hơn các khía cạnh của quá trình lao động của con người. Trong bộ luật lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, lao động được qui định: 7 "Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội" Khái niệm này về cơ bản là giống với khái niệm của Marx – Lenin.
Chúng đã khái quát được một cách toàn diện các hoạt động lao động phong phú của con người nhằm tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần phục vụ đời sống. Hoạt động lao động của con người có vai trò hết sức quan trọng. Trong lao động sản xuất ra của cải vật chất, con người luôn tác động vào các vật chất của tự nhiên, biến đổi nó cho phù hợp với nhu cầu của chính con người. Trong quá trình cải biến tài nguyên thiên nhiên, con người ngày càng phát hiện được những đặc tính, những quy luật của thế giới tự nhiên, từ đó họ cũng không ngừng thay đổi phương thức tác động vào thế giới tự nhiên, cải tiến các thao tác và công cụ lao động sao cho hoạt động của họ ngày càng hiệu quả hơn.
Như vậy, con người và tự nhiên có mối quan hệ biện chứng qua lại lẫn nhau trong quá trình con người phát triển hướng tới một xã hội văn minh và hiện đại. Trong lao động con người không chỉ cải thiện đời sống mà còn nâng cao được trình độ hiểu biết về thế giới tự nhiên mà đồng thời những kiến thức về xã hội và nhân cách đạo đức. Lao động là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển xã hội. Lao động là hoạt động có chủ đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi những những vật thể tự nhiên phù hợp với lợi ích của mình.
Lao động còn là sự vận động của sức lao động trong quá trình tạo ra của cải, vật chất và tinh thần, là quá trình kết hợp giữa sức lao động và tư liệu sản xuất. Lao động là yếu tố cần thiết của mọi quá trình sản xuất. Không có lao động thì không thể có các hoạt động sản xuất.Việc làm Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta đã đưa ra rất nhiều định nghĩa nhằm làm sáng tỏ: “việc làm là gì? ”. Và ở các quốc gia khác nhau do ảnh hưởng của nhiều yếu tố (như điều kiện kinh tế, chính trị, luật pháp…) người ta quan niệm về việc làm cũng khác nhau.
Chính vì thế không có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm. 8 Theo Luật lao động của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994 -Điều 13 thì việc làm được định nghĩa như sau: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm " Trên thực tế việc làm nêu trên được thể hiện dưới ba hình thức: Một là, làm công việc để nhận tiền lương, tiền công hoặc hiện vật cho công việc đó. Hai là, làm công việc để thu lợi cho bản thân mà bản thân lại có quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu (một phần hay toàn bộ) tư liệu sản xuất để tiến hành công việc đó. Ba là, làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó.
Bao gồm sản xuất nông nghiệp, hoạt động kinh tế phi nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên khác trong gia đình có quyền sử dụng, sở hữu hoặc quản lý. Khái niệm trên nói chung là khá bao quát nhưng chúng ta cũng thấy rõ hai hạn chế cơ bản. Hạn chế thứ nhất: hoạt động nội trợ không được coi là việc làm trong khi đó hoạt động nội trợ tạo ra các lợi ích phi vật chất và gián tiếp tạo ra lợi ích vật chất không hề nhỏ. Hạn chế thứ hai: khó có thể so sánh tỉ lệ người có việc làm giữa các quốc gia với nhau vì quan niệm về việc làm giữa các quốc gia có thể khác nhau phụ thuộc vào luật pháp, phong tục tập quán,…Có những nghề ở quốc gia này thì được cho phép và được coi đó là việc làm nhưng ở quốc gia khác lại bị cấm.
Ví dụ: đánh bạc ở Việt Nam bị cấm nhưng ở Thái Lan, Mỹ đó lại đựơc coi là một nghề thậm chí là rất phát triển vì nó thu hút khá đông tầng lớp thượng lưu. Trước đây thời kỳ bao cấp, nền kinh tế chủ yếu là sở hữu nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước chiếm đa số trong các doanh nghiệp hoạt động, vì vậy những người được coi là có việc làm là những người làm việc trong thành phần kinh tế nhà nước và trong các cơ quan nhà nước…Nhưng ngày nay khi đất nước có nền kinh tế mở, nền kinh tế tư nhân được công nhận thì khái niệm việc làm đãthay đổi, được mở rộng, phù hợp với nền sản xuất hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, tạo điều kiện cho mọi người dân tham gia vào nhiều hoạt động mang lại thu 9 nhập và tạo việc làm. Vì vây, người được coi là có việc gồm cả những người làm ở thành phần kinh tế tư nhân. Giải thích cho quan niệm này, chúng ta có thể xem xét ở hai khía cạnh sau: Một là, thị trường việc làm đã được mở rộng, bao gồm tất cả các thành phần kinh tế, các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh và không bị giới hạn về không gian.
Người lao động được coi là có việc làm khi lao động trong các đơn vị kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể cũng như kinh tế tư nhân, kinh tế hộ gia đình hoặc có thể hành nghề kinh doanh độc lập… Ý nghĩa thực tiễn của quan điểm này là rất lớn vì còn nhiều người dân Việt Nam vẫn coi trọng việc được làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước. Như thế mới là có việc làm ổn định. Tuy nhiên, để phù hợp với sự phát triển của xã hội, của xu hướng kinh tế toàn cầu, quan niệm này cần được thay đổi. Nếu không có các thành phần kinh tế tư nhân, hộ gia đình… làm sao đáp ứng được nhu cầu việc làm của rất nhiều thành phần đang ở độ tuổi lao động.
Đặc biệt,mỗi năm, số lượng sinh viên ra trường là rất đáng kể, doanh nghiệp nhà nước còn rất ít, làm thế nào để họ có thể có việc làm nếu không xin việc ở các thành phần kinh tế khác ngoài kinh tế nhà nước? Và các nền kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, kinh tế tư nhân và nhiều người mở hoạt động kinh doanh độc lập… là những doanh nghiệp không chỉ đóng góp cho sự phát triển kinh tế nước nhà mà còn góp giải quyết nhiều công ăn việc làm cho những người có nhu cầu đang ở độ tuổi lao động. Rất tốt là hiện nay ngay cả những người dân nông thôn cũng mở mang kinh doanh các ngành nghề hết sức phong phú. Với quan điểm như trên, Đảng và nhà nước ta đã tạo ra một cuộc cách mạng thực sự trong việc giải phóng lực lượng lao động xã hội, tính năng động của người lao động được nâng cao hơn nhiều so với những năm trước đây. Hai là, người lao động được tự do hành nghề, tự do liên doanh liên kết, tự do thuê mướn lao động theo luật pháp để tạo việc làm cho mình và xã hội.
Trong chiến lược phát triển kinh tế, Đảng ta luôn khẳng định duy trì nền kinh tế nhiều thành phần nhằm phát huy tối đa các nguồn lực của xã hội cho phát triển kinh tế. Do vậy, mọi tổ chức, cá nhân cũng như hộ gia đình đều có thể phát huy mọi khả năng và 10 nguồn lực cho phát triển kinh tế, thực hiện liên doanh liên kết, hợp tác kinh doanh với các đối tác kinh tế khác, cả trong và ngoài nước nhằm phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao thu nhập cho bản thân và xã hội theo quy định của pháp luật. Theo quan điểm của Marx: “Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ,…) để sử dụng sức lao động đó)”. Sức lao động do người lao động sở hữu.
Những điều kiện cần thiết như vốn, tư liệu sảnxuất, công nghệ,… có thể do người lao động có quyền sở hữu, sử dụng hay quản lýhoặc không.