CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ MẶT HÀNG XUẤT KHẨU CHỦ LỰC VÀ GIỚI THIỆU VỀ HIỆP ĐỊNH EVFTA 1. Khái quát về mặt hàng xuất khẩu chủ lực 1. Khái niệm và tiêu chí xác định mặt hàng xuất khẩu chủ lực Mặc dù đa số các quốc gia trên toàn cầu đều thực hiện chính sách đa dạng hoá các mặt hàng xuất khẩu, tức là chủ trường xuất khẩu nhiều loại sản phẩm khác nhau chứ không phải chỉ chuyên tập trung vào một số sản phẩm nhất định, nhưng chính các quốc gia đó cũng phải xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực để làm cột trụ cho nền kinh tế ngoại thương của mình. Hiện nay “mặt hàng xuất khẩu chủ lực” chưa có định nghĩa chính thức mà người ta mới chỉ đưa ra một số quan niệm và cách hiểu khác nhau.
Có quan điểm cho rằng mặt hàng xuất khẩu chủ lực là mặt hàng xuấu khẩu có kim ngạch lớn (nhưng không có sự thống nhất cuối cùng về việc lớn là bao nhiêu do từng nền kinh tế mỗi quốc gia cũng có những đặc thù riêng biệt); hoặc có ý kiến lại xem mặt hàng xuất khẩu chủ lực là những hàng hoá đóng vai trò quan trọng trong tổng giá trị xuất khẩu của quốc gia, hoặc có ảnh hưởng ít nhiều tới thị trường hàng hoá quốc tế, thường dùng giá trị tương đối là phần trăm (%). Những quan điểm trên không sai nhưng có một số điểm cần bổ sung để có thể đi đến một khái niệm đầy đủ và toàn diện hơn. Theo quan điểm chung hiện nay, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của một quốc gia có thể chia thành ba nhóm: - Nhóm hàng thứ yếu: là những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu nhỏ, chiếm tỉ trọng không lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu. - Nhóm hàng quan trọng: là những mặt hàng có vai trò quan trọng đối với từng địa phương trong quốc gia đó hoặc đối với từng thị trường xuất khẩu, mặc dù tỉ trọng của mặt hàng đó trên tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nền kinh tế là không lớn.
- Nhóm hàng chủ lực: là những mặt hàng có vai trò quan trọng, mang tính quyết định đối với tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia do có điều kiện sản xuất trong nước thuận lợi và có thị trường tiêu thụ ở nước ngoài. 6 Từ đó có thể thấy, để đưa ra định nghĩa chính xác nhất về khái niệm “mặt hàng xuất khẩu chủ lực” này, cần phải xem xét toàn diện hơn ở ba khía cạnh: khả năng tổ chức sản xuất hàng hoá đó (điều kiện về cung), thị trường tiêu thụ (điều kiện về cầu) và kim ngạch xuất khẩu. Ta nhận thấy hàng chủ lực phải là mặt hàng thuộc danh sách dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu do có thị trường ngoài nước và điều kiện sản xuất trong nước thuận lợi. Tóm lại, có thể đưa ra một khái niệm chung nhất về mặt hàng xuất khẩu chủ lực như sau: Mặt hàng xuất khẩu chủ lực là những hàng hóa có điều kiện sản xuất ở trong nước với hiệu quả kinh tế cao hơn những hàng hóa khác, có thị trường tiêu thụ ở nước ngoài tương đối ổn định trong thời gian dài và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của một quốc gia.
Vậy theo khái niệm trên, để xác định được mặt hàng xuất khẩu chủ lực của một quốc gia, ta cần tính toán kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng đó để xem có chiếm tỉ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu hay không. Tuy nhiên, chưa có sự thống nhất chung về việc cụ thể đạt bao nhiêu phần trăm thì được coi là tỉ trọng lớn. Các quốc gia khác nhau ở những thời điểm khác nhau đều đưa ra con số khác nhau về yêu cầu đối với tỉ trọng cần đạt. Vai trò của mặt hàng xuất khẩu chủ lực đối với phát triển kinh tế 1.
Góp phần đẩy mạnh tăng ngân sách quốc gia thông qua tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu Đối bất cứ quốc gia nào trên thế giới, nguồn vốn là yếu tố vô cùng quan trọng trong đối với sự phát triển đất nước. Và một trong những nguồn vốn cơ bản mà quốc gia có thể huy động được mà không cần đến hoạt động vay nợ chính là thông qua xuất khẩu hàng hoá. Việc tập trung đầu tư vào những mặt hàng xuất khẩu chủ lực (bên cạnh chính sách đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu) là nhân tố quan trọng để đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu; hoạt động này dựa vào nhu cầu của thị trường thế giới và lợi thế so sánh của bản thân quốc gia. Như đã trình bày ở trên, hàng hoá xuất khẩu chủ lực là những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn, chiếm tỷ trọng tương đối cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của 7 cả quốc gia; ngoài ra, nhóm hàng này thường có tốc độ tăng trưởng nhanh do chúng là những mặt hàng mà quốc gia sản xuất có lợi thế cạnh tranh.
Do đó, khi nhóm hàng này tăng trưởng thì sẽ tạo ra những đóng góp đáng kể cho nguồn thu từ xuất khẩu, và sẽ có vai trò chủ đạo trong việc tạo nên những bước đột phá về hoạt động xuất khẩu của quốc gia. Khi một quốc gia đã đầu tư xây dựng thành công các mặt hàng xuất khẩu chủ lực sẽ trực tiếp đóng góp vào việc tăng nguồn vốn ngoại tệ cho hoạt động sản xuất trong nước, mà sản xuất hàng hóa xuất khẩu sẽ là một trong những ngành được hưởng lợi đầu tiên. Về mặt gián tiếp, mặt hàng xuất khẩu chủ lực còn góp phần củng cố uy tín của hàng hóa quốc gia trên trường quốc tế, từ đó quay ngược lại tạo ra động lực phát triển hoạt động sản xuất trong nước. Từ đó, có thể thấy rằng nếu Nhà nước có thể việc xây dựng và phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực một cách đúng đắn, hợp lý, thì đây là một chính sách quan trọng để giúp tăng ngân sách quốc gia nói riêng và cuối cùng là đạt tăng trưởng kinh tế nói chung, ở cả hai nhân tố: tốc độ và tính ổn định.
Mở rộng quy mô sản xuất trong nước Để phát triển được ngành hàng xuất khẩu chủ lực, quốc gia phải đảm bảo được yêu cầu về nguồn cung cho ngành hàng đó, tức là phải có đủ điều kiện để sản xuất được mặt hàng đạt những yêu cầu đã đề ra mà thị trường đối tác có thể chấp nhận. Có hai lý do ảnh hưởng đến nguồn cung trong nước: một là bản thân mặt hàng xuất khẩu chủ lực là mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu, có nhu cầu lớn trên thị trường thế giới, có sức cạnh tranh mạnh nhưng cũng phải chịu sự cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia khác, nên điều kiện tiên quyết là quốc gia phải sở hữu một nền sản xuất trong nước phát triển; hai là đòi hỏi của thị trường thế giới luôn không ngừng biến đổi, cạnh tranh cũng từ đó mà gia tăng, nên để có thể bắt kịp với những nhu cầu của thị trường thế giới, tính linh hoạt và quy mô sản xuất các mặt hàng xuất khẩu chủ lực này phải đạt đến một mức độ nhất định. Vì vậy, nền sản xuất trong nước cần phải được đầu tư, phát triển và duy trì vững mạnh để tạo ra nguồn cung dồi dào, đạt tiêu chuẩn cho hoạt động xuất khẩu. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực Một yếu tố nữa tác động đến việc xây dựng ngành hàng xuất khẩu chủ lực là giá trị giá tăng của sản phẩm đó.
Rõ ràng, giá trị gia tăng của hàng hóa đã qua chế biến, gia công chắc chắn sẽ cao hơn so với hàng xuất khẩu dưới dạng thô sơ, chưa qua chế biến. Hơn nữa, xuất khẩu sản phẩm đã qua chế biến, gia công sẽ giúp khai thác các nguồn lực trong nước như vốn, lao động… một cách hiệu quả. Từ đó dẫn đến việc Nhà nước, doanh nghiệp cần phải tìm cách khai thác, sử dụng những tiến bộ hiện đại của thế giới như áp dụng máy móc, khoa học công nghệ, lao động trình độ cao. để đầu tư cho sản xuất.
Do đó, phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực chính là góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Có thể thấy trên thực tế, Việt Nam từ xuất phát điểm là một nước có nền sản xuất còn kém phát triển, chủ yếu là nông nghiệp theo phương thức truyền thống, qua quá trình 20 - 30 năm nỗ lực trong xây dựng, phát triển hoạt động xuất khẩu, hình thành và duy trì mặt hàng xuất khẩu chủ lực, đến nay nước ta đã trở thành quốc gia có vị thế khá vững vàng trên thị trường thế giới ở một số ngành hàng xuất khẩu như dệt may, da giày, thủy sản,…, đạt được mức độ tập trung quy mô lớn cũng như đáp ứng được các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của các quốc gia khó tính đó. Những yếu tố ảnh hưởng đến hình thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang EU 1. Yếu tố tác động đến cung - Các nguồn lực sản xuất: + Điều kiện tự nhiên: Việt Nam có điều kiện rất thuận lợi để phát triển hai ngành nông sản và thuỷ sản.
Nước ta có hai vùng nông nghiệp và ngư nghiệp chính là đồng bằng sông Hồng với diện tích 20,9 nghìn km2 (chiếm 7% diện tích cả nước) và đồng bằng sông Cửu Long với diện tích 40,5 nghìn km2 (chiếm 13% diện tích cả nước). Với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu rất thuận lợi như: nhiệt độ trung bình hằng năm cao trên 200C và có nắng quanh năm, giúp cây trồng vật nuôi dễ dàng phát triển … Việt Nam sở hữu bờ biển dài 3,4 nghìn km với 200 hải lý vùng đặc quyền kinh tế, có trữ lượng tính 9 riêng cá biển là khoảng 5 triệu tấn / năm, nhưng hiện mới chỉ có khả năng khai thác khoảng 2,3 triệu tấn / năm. + Quy mô lao động: tiêu biểu như ngành dệt may có khoảng 3 triệu lao động; ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản có số lượng lao động có kỹ thuật khoảng 4,07 triệu người, còn cả ngành nông nghiệp khoảng 29 triệu lao động. + Nguồn vốn đầu tư: ví dụ như ngành nông nghiệp, trong 3 năm qua đã thu hút số vốn đầu tư trực tiếp tăng hơn 3 lần, từ 3.000 tỉ đồng lên hơn 11.
Tuy nhiên, số công ty đầu tư vào nông nghiệp mới chiếm 8% tổng số doanh nghiệp của cả nước, chưa đáp ứng được yêu cầu.