Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sơ lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty CP Khoáng sản và Thương mại Trung Hải – Nghệ An Chương 4: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty CP Khoáng sản và Thương mại Trung Hải – Nghệ An 15 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP 2. Một số lý thuyết cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 2. Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh được phát biểu là sự tranh đua nhau để giành lấy lợi ích về phía mình, giữa những người, những tổ chức có cùng lĩnh vực hoạt động như nhau. Cạnh tranh theo cấp độ doanh nghiệp còn được hiểu là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực.
Tuy nhiên, bản chất cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh. Theo từ điển thương mại Anh- Pháp - Việt thì vấn đề cạnh tranh lại được nói đến một cách mạnh mẽ và quyết liệt hơn: Cạnh tranh là tình trạng giành giật nhau về khách hàng và thị trường. Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam, cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất. Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng nói chung cạnh tranh có thể hiểu là sự đấu tranh của hai hay nhiều bên cùng tham gia vào một hoạt động với cùng một mục đích.
Mục đích áy có thể là quyền hành, là vị thế có lợi cho mình trên các phương diện. Trong kinh tế thị trường đó là sự dành giật về thị phần, quyền kiểm soát mua hoặc bán các loại sản phẩm. Là một phạm trù phức tạp cạnh tranh có liên quan đến nhiều khía cạnh, lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một hiện tượng tất yếu xẩy ra đặc biệt là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.
Cạnh tranh có tác dụng rất tích cực “thúc đẩy con người nỗ lực hơn, sáng tạo, tăng năng suất lao động, làm cho quá trình của cải của quốc gia tăng lên, cạnh tranh chủ 16 yếu diễn ra thông qua thị trường và giá cả, do đó cạnh tranh có quan hệ chặt chẽ với thị trường và tự do cạnh tranh có thể tự điều tiết các quan hệ cung - cầu, sản lượng, phân công lao động, tạo sự cân bằng cung cầu xã hội mà không cần sự can thiệp của Nhà nước”. Có thể thấy, cạnh tranh là một công cụ mạnh mẽ và là một yêu cầu tất yếu cho sự phát triển kinh tế của mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia. Cạnh tranh giúp khai thác một cách hiệu quả nguồn lực thiên nhiên và tạo ra các phương tiện mới để thoả mãn nhu cầu cá nhân ở mức giá thấp hơn và chất lượng cao hơn, từ đó nâng cao được đời sống vật chất và tinh thần của con người. Nhờ cạnh tranh đã thúc đẩy đổi mới công nghệ và gia tăng năng suất, tạo ra những thành tựu mới trên nhiều lĩnh vực.
Khái niệm năng lực cạnh tranh Trong cạnh tranh sẽ có người có khả năng cạnh tranh mạnh, người có khả năng cạnh tranh yếu hoặc sản phẩm có khả năng cạnh tranh mạnh, sản phẩm có khả năng cạnh tranh yếu, khả năng cạnh tranh này gọi là năng lực cạnh tranh hay sức cạnh tranh. Theo Michael Porter, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì, mở rộng thị phần và đạt được lợi nhuận cao của doanh nghiệp. Đây là quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ và khả năng thu lợi của các doanh nghiệp. Từ những khái niệm nêu trên, có thể hiểu năng lực cạnh tranh chính là khả năng sử dụng các khả năng sử dụng các nguồn lực đã được kết hợp một cách có mục đích để giành lấy lợi ích về phía mình.
Các cấp độ cạnh tranh Về cơ bản, năng lực cạnh tranh được phân thành 4 cấp độ, bao gồm: - Năng lực cạnh tranh quốc gia: Có thể hiểu, năng lực cạnh tranh quốc gia là toàn bộ các chính sách, thể chế và các nhân tố quyết định đến năng suất, sự phát triển và tính bền vững của một nền kinh tế. 17 - Năng lực cạnh tranh ngành: cạnh tranh giữa các ngành là cuộc cạnh tranh giữa doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn. - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là tổng hợp năng lực nắm giữ và nâng cao thị phần trong sản xuất hàng hóa, dịch vụ và đáp ứng được các yêu cầu của thị trường. Nói cách khác, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chính là khai thác thực lực và lợi thế bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp để tối đa hóa lợi ích của mình vừa thỏa mãn tốt nhu cầu của khách hàng.
Đồng thời cải tiến vị thế của doanh nghiệp so với đối thủ. - Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ: thể hiện năng lực của sản phẩm, dịch vụ đó thay thế một sản phẩm, dịch vụ khác dựa trên các yếu tố như: giá cả, đặc tính, chất lượng… Có thể nói, năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ là một yếu tố xây dựng nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Ở cấp độ doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh có thể được hiểu là việc doanh nghiệp sử dụng các thế mạnh của các nguồn lực (vốn, nguồn nhân lực, sản phẩm…) để tạo ra các lợi thế cạnh tranh, từ đó vượt qua các đối thủ cạnh tranh, giành lấy thị phần và khách hàng về phía mình. Một số lý thuyết về hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phầm của doanh nghiệp 2. Khái niệm về năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp đáp ứng được nhu cầu của thị trường quốc tế với các sản phẩm của mình, trong một môi trường cạnh tranh khốc liệt.
Năng lực này bao gồm nhiều yếu tố, bao gồm: - Năng lực sản xuất: đây là khả năng sản xuất sản phẩm đạt chất lượng tốt, đáp ứng được tiêu chuẩn của thị trường quốc tế và với chi phí sản xuất thấp. 18 - Năng lực tiếp cận thị trường: khả năng tìm kiếm khách hàng tiềm năng, tiếp cận thị trường quốc tế, đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng một cách hiệu quả. - Năng lực quản lý: khả năng quản lý tài chính, quản lý sản xuất, quản lý chất lượng, quản lý nhân sự và các hoạt động kinh doanh khác một cách chuyên nghiệp, hiệu quả và hiệu quả. - Năng lực đổi mới: khả năng sáng tạo, đổi mới sản phẩm, công nghệ, quy trình sản xuất để tăng cường tính cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu của thị trường.
- Năng lực tài chính: khả năng quản lý và sử dụng tài chính một cách hiệu quả, tối ưu hóa vốn đầu tư và giảm thiểu rủi ro tài chính. Tất cả những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp và giúp doanh nghiệp tạo ra giá trị cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp - Thị phần Trên thực tế có rất nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác, trong đó thị phần là một chỉ tiêu thường hay được sử dụng. Thị phần được hiểu là phần thị trường mà doanh nghiệp chiếm giữ trong tổng dung lượng thị trường.
Do đó thị phần của doanh nghiệp được xác định: Doanh thu của doanh nghiệp Thị phần của doanh nghiệp = Tổng doanh thu ngành Chi tiêu này cảng lớn nói lên sự chiếm lĩnh thị trưởng của doanh nghiệp càng rộng. Thông qua sự biến động của chỉ tiêu này ta có thể đánh giá mức độ hoạt động của doanh nghiệp có hiệu quả hay không bởi nếu doanh nghiệp có một mảng thị trường lớn thì chỉ số trên đạt mức cao nhất và ấn định cho doanh nghiệp một vị trí ưu thế trên thị trường. Nếu doanh nghiệp có một phạm vi thị trưởng nhỏ hẹp thì chỉ số trên ở mức thấp, phản ánh tình trạng doanh nghiệp đang bị chèn ép bởi các đối thủ cạnh tranh. Bằng chi tiêu thị phần, doanh nghiệp có thể đánh giá sơ bộ khả năng chiếm lĩnh thị trường so với toàn ngành.
Để đánh giá được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp so 19 với đối thủ ta còn dùng chỉ tiêu thị phần tương đối: đó là tỉ lệ so sánh về doanh thu của Công ty so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất từ đó có thể biết được những mặt mạnh hay những điểm còn hạn chế so với đối thủ. Ưu điểm của chỉ tiêu này là đơn giản, dễ hiểu nhưng nhược điểm của nó là khó nắm bắt được chính xác số liệu cụ thể và xác thực của đối thủ. - Tăng trưởng thị phần và lợi nhuận Lợi nhuận là phần còn lại của doanh thu khi đã trừ các chi phí dùng vào hoạt động kinh doanh. Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Bởi vì nếu doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao là doanh nghiệp có doanh thu lớn và chi phí thấp. Căn cứ vào chỉ tiêu lợi nhuận mà các doanh nghiệp có thể đánh giá được năng lực cạnh tranh của mình so với đối thủ cạnh tranh. Ta thưởng tỉnh chỉ tiêu tỉ suất lợi nhuận: Tổng lợi nhuận Tỉ suất lợi nhuận = Tổng doanh thu Chỉ tiêu này cho thấy cứ một đồng doanh thu thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Nó phản ánh chất lượng kinh doanh của doanh nghiệp.
Vì nếu doanh nghiệp có thu được doanh thu lớn nhưng kèm theo là chi phí lớn thì hiệu quả không cao. Doanh nghiệp cần phấn đấu làm sao vừa tăng doanh thu nhưng phải kết hợp với giảm chi phí để đạt được lợi nhuận cao. - Chất lượng của sản phẩm Chất lượng sản phẩm là tiêu chí quan trọng đánh giá năng lực cạnh tranh xuất khẩu của doanh nghiệp.