CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÓA ÁN TÍCH 1. Khái niệm và hậu quả pháp lý của án tích 1. Khái niệm án tích Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, một điều không thể phủ nhận là sự cố gắng không ngừng của Đảng và Nhà nước để xây dựng và phát triển mọi mặt của đời sống xã hội. Để góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội và ổn định an ninh, trật tự, an toàn xã hội phải nói đến sự phát triển không ngừng của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung cũng như Luật hình sự nói riêng.
Trong luật hình sự Việt Nam, vấn đề án tích được đề cập đến kể từ khi BLHS năm 1985 có hiệu lực. Trước khi có Bộ luật này, trong các văn bản pháp luật, tình tiết xấu về nhân thân liên quan đến án tích đã được quy định là tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Đó là hai trường hợp cụ thể đặc biệt của trường hợp có án tích. Tuy nhiên, quy định này còn bị hạn chế bởi thiếu quy định về xóa án tích.
Hạn chế này đã được khắc phục trong BLHS năm 1985. Cụ thể, vấn đề này được quy định tại khoản 5 Điều 3 và tại các Điều 52 đến Điểu 56 của BLHS năm 1985 quy định xóa án và các trường hợp xóa án: Đương nhiên xóa án, xóa án theo quyết định của tòa án, xóa án trong trường hợp đặc biệt. Trong BLHS năm 1999, các quy định liên quan đến án tích đã dần được hoàn thiện. Đồng thời trong Bộ luật này, ảnh hưởng của án tích đối với trách nhiệm hình sự cũng được mở rộng hơn.
Trong BLHS năm 1985, án tích được quy định chủ yếu ảnh hưởng đến mức độ trách nhiệm hình sự qua quy định về tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Án tích có thể là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, cũng có thể là tình tiết định tội hoặc tăng nặng định khung. Trong BLHS năm 1999, ý nghĩa quyết định của án tích trong việc xác định hành vi trái pháp luật là tội phạm đã được mở rộng đối với nhiều tội. Bên cạnh các tình tiết xấu về nhân thân như tình tiết đã bị xử phạt về hành chính, tình tiết có án tích…đã được quy định là tình tiết định tội độc lập hoặc là tình tiết định tội thay thế cho tình tiết hậu quả nguy hiểm cho xã hội ở 6 nhiều tội danh.
Tuy nhiên, để hiểu án tích là gì thì cho đến nay trong các BLHS Việt Nam chưa có một điều luật nào đưa ra định nghĩa pháp lý về án tích, cũng như chưa có một công trình nghiên cứu chuyên khảo độc lập nào đề cập, nghiên cứu chế định án tích một cách toàn diện và có hệ thống. Việc BLHS không quy định hoặc giải thích một cách cụ thể như thế nào được gọi là án tích hay nói cách khác án tích là gì? Đã dẫn đến có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm, đặc điểm, bản chất và ý nghĩa của án tích. Có thể kể đến một số quan điểm khác nhau trong giới khoa học luật hình sự về án tích như sau: Theo quan điểm của PGS.TS Phạm Hồng Hải thì án tích được hiểu là “Hậu quả pháp lý của bản án kết tội mà Tòa án tuyên đối với người phạm tội, là một tình tiết có ý nghĩa pháp lý trong việc đánh giá tính chất nguy hiểm của tội phạm và của người phạm tội khi tội phạm được thực hiện trong thời gian người ấy mang án tích” [15, tr. Quan điểm này đã chỉ ra được án tích là hậu quả pháp lý bất lợi chỉ áp dụng cho người phạm tội thông qua bản án kết tội của tòa án.
Điểm bất lợi đó thể hiện ở chỗ nó sẽ được coi là một điều kiện để đánh giá mức độ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đó là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm(Điều 49 BLHS năm 1999), nếu như người đó tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích. Tuy vậy, quan điểm này vẫn bộc lộ một số điểm chưa hợp lý, đó là không phải bất kỳ người phạm tội nào bị kết án cũng bị coi là có án tích. Trường hợp người bị kết án, nhưng được tòa án tuyên miễn hình phạt thì không bị coi là có án tích(khoản 1 Điều 64 BLHS năm 1999). Luật gia Nguyễn Thị Lan lại cho rằng: “Án tích là một dấu ấn, cho thấy người có án tích đã từng bị kết án vì đã phạm tội” [22, tr.
Quan điểm này đã chỉ ra được rằng chỉ có những người phạm tội mà đã bị tòa án kết án, thì mới có án tích. Tuy nhiên, quan điểm này cũng có những điểm chưa thật sự hợp lý. Đó là việc dùng thuật ngữ "dấu ấn" để chỉ hậu quả pháp lý của người bị kết án phải gánh chịu là chưa phù hợp, thiếu chuẩn xác, nó chưa đáng giá đúng bản chất pháp lý của án tích cũng như tính nghiêm khắc của hình phạt. Và mặt khác, cũng 7 giống như quan điểm của PGS.TS Phạm Hồng Hải thì dùng thuật ngữ “người bị kết án” làm căn cứ là không chính xác, vì có nhiều trường hợp bị kết án nhưng không bị áp dụng hình phạt thì cũng không bị coi là có án tích.
Còn theo Từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý(Bộ Tư pháp) thì: “Án tích là đặc điểm xấu(hậu quả) về nhân thân của người đã bị kết án và bị áp dụng hình phạt đã được ghi và lưu lại trong lý lịch tư pháp trong thời gian luật định” [6, tr. Quan điểm này đã đã khái quát và làm rõ được bản chất của án tích cũng như các đặc điểm về mặt pháp lý của án tích. Án tích được áp dụng với những chủ thể đã bị kết án và bị áp dụng hình phạt về một tội phạm cụ thể nào đó mà chưa được xóa án tích. Bản chất của án tích là những đặc điểm xấu về mặt nhân thân của người phạm tội.
Điều này được thể hiện một cách rõ ràng trong lý lịch tư pháp của họ với dòng chữ được ghi “có tiền án”. Tuy nhiên, án tích nó không phải là một yếu tố tồn tại vĩnh viễn mà chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định. Thời gian mang án tích dài hay ngắn là tùy thuộc vào mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội gây ra. Một người khi đã mang án tích thì sẽ gặp rất nhiều bất lợi trong cuộc sống và những hoạt động mà họ tham gia.
Như vậy, từ những sự phân tích, nghiên cứu trên đây và tham khảo một số quan điểm khác nhau về án tích tác giả đưa ra định nghĩa của mình về án tích như sau: “Án tích là tình trạng pháp lý bất lợi của người bị kết án và bị áp dụng hình phạt theo bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án và chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định. Được tính từ khi người bị kết án chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của Tòa án. Hậu quả pháp lý của án tích Trong vấn đề trách nhiệm pháp lý, điểm khác biệt giữa việc bị áp dụng chế tài hình sự và các chế tài khác ở chổ: Nếu như, ở các vi phạm pháp luật khác thì người vi phạm sau khi chấp hành xong các chế tài xử lý thì mọi trách nhiệm chấm dứt. Còn đối với người vi phạm mà bị áp dụng chế tài hình sự thì sau khi chấp hành xong hình phạt trách nhiệm pháp lý họ vẫn chưa chấm dứt.
Đó là họ vẫn bị coi là có án tích trong một khoảng thời gian nhất định. Điều này sẽ mang 8 lại cho người bị kết án rất nhiều bất lợi. Đây chính là đặc điểm nỗi bật nhất để đánh giá mức độ nghiêm khắc nhất của hình phạt so với các biện pháp tư pháp khác. Vậy sự bất lợi của án tích được thể hiện ở các phương diện sau: Thứ nhất, án tích làm cho người bị kết án mang đặc điểm xấu về nhân thân Khi một người phạm tội đã bị tòa án áp dụng hình phạt thì hậu quả pháp lý mà họ phải gánh chịu không chỉ là chấp hành hình phạt đó mà còn bị coi là có án tích - một đặc điểm xấu về nhân thân.
Một sự bất lợi rất lớn cho họ trong nhiều hoạt động của đời sống xã hội cũng như khi có hành vi vi phạm pháp luật hoặc hành vi phạm tội mới. Người mang án tích, trong lý lịch tư pháp cũng như các giấy tờ chứng thực về nhân thân sẽ bị ghi “có tiền án”, đồng thời cũng chỉ rõ tội phạm cũng như hình phạt mà họ phải gánh chịu. Khi đó, án tích như một “vết bẩn” trong lý lịch của người phạm tội, dẫn tới sự kỳ thị, những cái nhìn thiếu thiện cảm của xã hội. Điều này sẽ gây ra không ít khó khăn trong quá trình sinh hoạt, tham gia các hoạt động xã hội, làm cản trở con đường hoàn lương của người bị kết án.
Hơn nữa, để bảo đảm tính phòng ngừa tội phạm thì Nhà nước sẽ hạn chế bớt một số quyền của người đang bị mang án tích trong một số lĩnh vực nhất định. Có thể kể đến một số lĩnh vực như: Khoản 4 Điều 17 Luật Luật sư năm 2013 cũng quy định về điều kiện được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư thì người “đã bị kết án mà chưa được xóa án tích về tội phạm do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý; đã bị kết án về tội phạm nghiêm trọng do cố ý, tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý kể cả trường hợp đã được xóa án tích” thì không được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư. Điểm c Khoản 2 Điều 36 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định về điều kiện tuyển dụng công chức như sau: “Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành hoặc đã chấp hành xong bản án, quyết định về hình sự của Tòa án mà chưa được xóa án tích;…” thì không được đăng ký dự tuyển công chức.