Chương IJ. Hoạt động của Viện kiểm sát đối với việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Chương II. Một số giải pháp nang cao vai trò của viện kiểm sát đối với việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo. CHUONG | Những vấn dé chung về nhiệm vụ và hoạt động của viện kiểm sát đối với việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo.
Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự. Khát niêm quyền bào chữa Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin khang định: Con người là vốn quý nhất của xã hội. Cách mạng là để giải phóng con người, trong đó có việc bao đảm các quyền tu do dân chủ và các lợi ích hợp pháp khác của công dân. Ghi nhận quyền con người là kết qua đấu tranh lâu dài, bền bi của lực lượng tiến bộ chống lại các thế lực độc tài, phản dân chủ trên thế vidi.
Một trong các quyền tự đo dân chủ của con người trong xã hội Xã hội chủ nghĩa là quyền của người bị buộc tội trong đó có bị can, bị cáo được đưa ra bằng chứng, chứng cứ để chứng minh về sự không có lỗi hoặc giảm lỗi của họ. Theo Điều 35 Bộ luật tố tụng hình sự thì bị can là người đã bị khởi tố về mat hình sự. Bi cáo là người đã bi toà án quyết định đưa ra xét xử. Bao dam quyền bào chữa của bị can, bi cáo là một nguyên tac quan trong cửa tố tụng hình sự Xã hội chủ nghĩa.
Ngoài quyền năng tố tụng của bị can, bị cdo; pháp luật còn quy định các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tung và các tổ chức, cá nhân có liên quan phải tạo điều kiện thuận lợi để bị can, bị cáo bảo vệ các quyền cũng như lợi ích hợp pháp của mình. Thực hiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự là thể hiện tính nhân dao và tư tưởng nhân văn. Nguyên tác này được thể hiện trong hiến pháp và được cụ thể hoá trong Bộ luật hình sự tất cả các nước tiến hộ. Khoản 4 Điều 14 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính ima Việt nam gia nhập ngày 24/9/1982 nêu rõ: “BỊ cáo được bào chữa hoặc nhờ sự giíp đỡ pháp ly do minh chọn; nếu chưa có sự giúp đỡ về pháp lý thì phải được thông báo về quyền này; trong trường hợp ảo lợi ích của công lý đòi hoi, phải bố trí cho người đó mot su giúp đố về mặt pháp lý mà không phải trả tiền, nếu người đó không có điều kiện trả”.
Quy định trên đây của Công ước quốc tế rất đáng được lưu ý khi khi nghiên cứu sửa đổi Bộ luật tố tụng hình sự của Nhà nước ta. Tôn trọng và bao vệ các quyền cơ bản của công dan là một nguyên tác quan trọng Wong tố tụng hình sự của nước ta, nhằm đáp ứng yêu cầu dam bao day đủ các quyền dân chủ cơ bản của công dân về các mặt kinh tế, chính trị, dân sự, văn hoá xã hội. đã được Hiến pháp quy định. Bộ luật tố tụng hình sự coi việc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân là nguyên tắc không thể thiếu được, thể hiện bản chất của nền dân chủ ở nước ta luôn được dé cao.
Các cơ quan tiến hành tố tung và những người tiến hành tố tụng phải tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Quyền bào chữa của bi can, bị cáo Wong tố tung hình su là một chế định quan trọng cụ thể hoá nguyên tắc của Hiến pháp 1992 quy định tại Điều 132. Bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo không chỉ thể hiện nội dung dân chủ, nội dung vì quyền con người của pháp luật Xã hội chủ nghia mà là một trong những điều kiện bao dam cho việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự được chính xác, khách quan. ; Quyền bao chữa của bị can, bị cáo là quyền được dua ra những bang chứng, chứng cứ, căn cứ để chứng minh về sự không có lỗi hoặc để làm giảm lỗi cua mình (bao gồm lỗi hình sự, lỗi hành chính, lỗi dân sự.) trước cơ quan có thẩm quyền.
Trong tố tụng hình sự, quyền bào chữa của bị can, bị cáo là một tổng thể các quyền và các biện pháp tố tụng cần thiết để đảm bảo cho bị can, bị cáo tích cực tham gia tO tụng hình sự phát huy kha năng thực tế và bày tỏ 9 thái độ của mình đối với việc buộc tội. khả năng nêu ra các tinh tiết minh oan hoặc giam nhẹ tội cho bị can, bị cáo. Quyển tự bào chữa của bi can, bị cáo Quyền bào chữa trước hết phải nói đến quyền tự bào chữa của bị can, bi cáo. Có thé cor quyền tự bào chữa của bị can, bị cáo là quyền nang cơ ban không thể tách rời người bị buộc tội.
Tính chất cơ bản của quyền này thể hiện ở ché:chi trên cơ sở quyền tự bào chữa mới làm phát sinh quyền nhờ người khác bào chữa và trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc dam bao quyền bào chữa của bị can, bị cáo. Hay nói một cách khác, nếu không có quyền tự bào chữa thì không thể làm phát sinh quyền nhờ người khác bào chữa. Khang định điều này sẽ có ý nghĩa rất quan trọng khi tìm hiểu nội dung mối quan hệ giữa bị can, bị cáo và người bào chữa của họ. Với tư cách là chủ thể của quyền bào chữa và là người tham gia tố tụng: bị can, bị cáo có thể sứ dụng quyền bào chữa ở bất cứ piai đoạn t6 tung nào.
Để thực hiện quyền bào chữa của mình, pháp luật tố tung hình sự quy định cho bị can, bị cáo một số quyền năng nhất định. Khoản 2 Điều 34 Bộ luật tố tụng hình sự 1988 đã liệt kê các quyền của bi can như sau: "Bi can có quyền biết minh bị khởi tố về tôi gi; đưa ra chứng cứ và những yêu cẩu. có quyén khiếu nại các quyết định của cơ quan điều tra và Viện kiếm sứ”. Liên quan đến quyền bào chữa của bị can mà cụ thé là quyền đưa ra hang chứng, lời khai, lời giải thích; hay nói cách khác là việc trình bày những tình tiết của vụ án.
Về vấn dé này, chúng ta cần phải khang định ring: đây là quyền chứ không phải là trách nhiệm của bị can, bị cáo. Theo Điều 11 Bộ luật tố tung hình sự: “Trách nhiệm chứng minh tôi phạm thuộc về các co quan tiến hành tố tụng; bị can, bị cáo có quyển nhưng không buộc phái chứng minh là mình vô tội". Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định cho phép cơ quan điều tra áp dụng các biện pháp cần thiết được Bộ luật tố tụng hình sự quy định để tiến hành các hoạt động điều tra nhằm thu 10 thập chứng cứ, xác định tội phạm va người phạm tội. Do vậy, nếu như bị can, bị cáo có hành vi từ chối khai báo, tham chí là khai báo gian dối hoặc thái độ bất hợp tác thì không được cho rằng đây là hành vi chống đối.
Pháp luật không thể yêu cầu hoặc bắt buộc một con người cụ thể có nghĩa vụ phải đưa ra bằng chứng để buộc tội mình, chống lại mình; vì điều đó hoàn toàn vô lý và đi ngược lại lý trí cũng như lương trì. Nói cách khác bị can, bị cáo không có nghĩa vụ phải tự tố giác mình; thậm chí pháp luật còn quy định: lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu nó phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án; không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội. Điều này cũng phù hợp với tư tưởng pháp lý tiến bộ của nhân loại. Khoản 3 Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1996 quy định: "3.
Trong quá trình xét xử về mội tôi hình sự, mỗi người đều có quyền doi hỏi một cách bình dang và đầy đủ những đòi hỏi tối thiểu sau đây: 9) không bị ép buộc phái chứng mình chống lại mình hoặc buộc tự thú là mình có tôi". °” Pháp luật nước ta không quy định trách nhiệm đối với bị can, bị cáo về hành vi từ chối khai báo hoặc khai báo gian dối, rong khi đó Pháp luật nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình (Điều 5 Bộ luật tố tụng hình sự) và còn quy trách nhiệm hình sự đối với nhứng người vi phạm quy định này (Điều 234 và 235 Bộ luật hình sự). Để bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo; pháp luật quy định họ được trực tiếp tham gia một số hành vi tố tụng trong quá trình điều tra, thu thập chứng cứ. Chẳng hạn bị can có thể tham dự khám nghiệm hiện trường (Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự), có thể tham dự thực nghiệm điều ưa (Điều 128 Bộ luật tế tụng hình sự), nếu bị can yêu cầu thì được thông báo 0 Nem: Điều 14 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính ut.
Quyền con người - Các van kiện quan trọng, NNB Viện Thông tin KHANH. Hà nội 1998 trang 148. li về nội dung kết luận giám định, yêu cầu giám định bổ sung, bd giám định lại (Điều 133 Bộ luật tố tung hình sự). Điều 34 Bộ luật tố tụng hình sự quy định bị can có quyền được nhận bản kết luận điều tra sau khi kết thúc điều tra, được nhận Bản cáo trạng sau khi Viện kiểm sát quyết định truy tố.
Trong giai đoạn điều tra bị can có quyền dé nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch khi có những căn cứ do pháp luật quy định. Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử của Toà án, bị can ud thành bị cáo và quyền bào chữa của họ tiếp tục được dam bao bằng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 157 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: “BỊ cáo, người bào chữa được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xứ; bị cáo có quyền đề nghị triệu tập thêm người làm chứng; dua thêm tài liệu vật chứng và xem xét dé nghị hoãn phiên toà”. Trong giải đoạn xét xử, bị cáo có quyền trình bày lời bào chữa đáp lại ý kiến của người khác và nói lời sau cùng (các Điều 191, 192 và 194 Bộ luật tố tụng hình sự), kháng cáo các quyết định cửa toà án (Điều 34 Bộ luật tố tụng hình sự).