Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Đề tài luận án nghiên cứu vấn đề mới nên không có công trình nghiên cứu nào có nội dung liên quan trực tiếp mà chỉ có một số ít công trình liên quan đến một số khía cạnh của luận án như lý luận và pháp luật về quyền con người nói chung thể hiện những tư duy lý luận mới của nền tư pháp hình sự tiến bộ là bảo vệ công lý, quyền con người. Nghiên cứu sinh tiếp cận nhiều công trình nghiên cứu vị tri, vai trò của Viện kiểm sát trong việc bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội qua hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, nghiên cứu việc bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra hoặc hoạt động xét xử của Tòa án, việc thực hiện quyền được suy đoán vô tội, quyền chứng minh vô tội, quyền không tự buộc tội, quyền bào chữa, tranh tụng, việc ghi âm, ghi hình có âm thanh khi lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can để chống bức cung, nhục hình trong giai đoạn điều tra nên Nghiên cứu sinh có thể khái quát tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài như sau: 1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước 1.
Nhóm các tác phẩm, các giáo trình, công trình nghiên cứu (luận án, luận văn, bài viết) về các vấn đề lý luận và pháp luật về quyền con người, các chức năng, nguyên tắc tố tụng, thiết chế bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội Ở Việt Nam, lý luận chung về quyền con người được trình bày trong “Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người”-Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Hà Nội năm 2009 do Tiến sỹ Nguyễn Đăng Dung cùng đồng nghiệp (đồng chủ biên) đã nêu đầy đủ cơ sở lý luận và pháp luật về quyền con người mà Nghiên cứu sinh cần tham khảo cho cơ sở lý luận về quyền con người và bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong luận án. Về khái niệm bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội có các công trình nghiên cứu như: Bài viết: “Quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự” của Tiến sỹ luật học Lê Hữu Thể và Thạc sỹ luật học Nguyễn Thị Hương (đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 18/2017) đã đưa ra 13 khái niệm quyền con người và quyền của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự, nêu ra quyền cơ bản và quyền tố tụng của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự theo quy định của Hiến pháp năm 2013 như: quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền khiếu nại, tố cáo, quyền được suy đoán vô tội, quyền được tranh tụng, quyền bào chữa nhưng chưa đưa ra khái niệm quyền con người và quyền của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát mà Nghiên cứu sinh đề cập. Tiến sỹ luật học Phạm Văn Hùng với bài viết: “Hiến pháp năm 2013 với chế định bảo đảm quyền con người về tư pháp hình sự” (đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 16, kỳ II, tháng 08/2014) đã nêu các bảo đảm quyền con người về tư pháp hình sự theo Hiến pháp năm 2013 là: Bảo đảm sự đúng đắn trong việc bắt người, không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình. Bảo đảm sự đúng đắn khi buộc tội, được xét xử kịp thời, công bằng, công khai.
Bảo đảm không bị kết án hai lần vì một tội phạm. Bảo đảm quyền bào chữa, được bồi thường thiệt hại mà Nghiên cứu sinh cần tham khảo để hoàn thiện luận án. Tuy nhiên do góc độ nghiên cứu nên Tác giả bài viết chưa đi vào phân tích nội dung, cơ chế bảo đảm thực hiện các quyền này, chưa thấy vai trò, trách nhiệm bảo đảm thực thi quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát. Tiến sỹ luật học Tường Duy Kiên với bài: “Chuẩn mực quốc tế về bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự” (đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 13, tháng 7/2006).
Nội dung đề cập những chuẩn mực quốc tế về bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự như quyền được coi là vô tội, áp dụng hình thức đối xử thích hợp với người bị giam, giữ chờ xét xử, giảm thiểu nguy cơ xâm phạm đến quyền con người trong hoạt động xét xử mà Nghiên cứu sinh cần tham khảo để xác định tính tương thích của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam theo chuẩn mực quốc tế về bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự. Về nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự có các công trình nghiên cứu như: Tiến sỹ luật học Nguyễn Thành Long với công trình sách chuyên khảo “Nguyên tắc suy đoán vô tội trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự thật-Hà Nội phát hành năm 2011 đã đưa ra khái niệm về nguyên tắc suy đoán vô tội, xác định chủ thể được suy đoán vô tội là người bị buộc tội và chủ thể thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội là người tiến hành tố 14 tụng, có so sánh với một số nước trên thế giới và sự thể hiện của nguyên tắc này trong thực tiễn tố tụng hình sự Việt Nam và đề xuất giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh nguyên tắc này mà Nghiên cứu sinh phải tham khảo. Riêng ở góc độ thực hiện quyền được suy đoán vô tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát trong mối quan hệ với quyền không tự buộc tội của người bị buộc tội là chưa đề cập nên không trùng lặp với đề tài luận án của Nghiên cứu sinh. Giáo sư, Tiến sỹ khoa học luật học Đào Trí Úc với bài viết: “Nguyên tắc suy đoán vô tội-nguyên tắc hiến định quan trọng trong Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam năm 2015” (đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 02-tháng 1/2017) đã nêu ra ba yêu cầu của nguyên tắc là: Yêu cầu về trình tự, thủ tục; Về chứng minh tội và lỗi của người bị buộc tội, Về lôgic tư duy đối với người và cơ quan tiến hành tố tụng.
Theo đó, mọi hoài nghi về lỗi của người bị buộc tội cần được giải thích theo hướng có lợi cho người đó mà Nghiên cứu sinh cần tham khảo để lập luận trong luận án. Luận án Tiến sỹ luật học của Tác giả Nguyễn Đức Hạnh với đề tài: “Nguyên tắc bình đẳng trong luật tố tụng hình sự Việt Nam-Những vấn đề lý luận và thực tiễn” (năm 2015). Nội dung làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của nguyên tắc bình đẳng và quyền bình đẳng về địa vị pháp lý giữa người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng, bình đẳng giữa hai chủ thể buộc tội và bị buộc tội, bình đẳng trong việc xác định sự thật vụ án trên cơ sở có quan hệ chặt chẽ với các nguyên tắc khác như: nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa, nguyên tắc tranh tụng; nghiên cứu cội nguồn của quyền bình đẳng góp phần bảo vệ quyền con người nói chung và trong tư pháp hình sự, bình đẳng thể hiện ở mô hình và chức năng tố tụng, về quyền bào chữa và thực hành quyền công tố, thực hiện chức năng buộc tội, chức năng xét xử trong hoạt động tranh tụng, về quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật và trước Tòa án mà Nghiên cứu sinh cần tham khảo hoàn thiện thêm luận án của mình. Luận án Tiến sĩ luật học của Tác giả Nguyễn văn Hiển với đề tài: “Nguyên tắc tranh tụng trong luật tố tụng hình sự Việt Nam-Những vấn đề lý luận và thực tiễn” (năm 2011).
Nội dung làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của nguyên tắc tranh tụng trong luật tố tụng hình sự Việt Nam. Nghiên cứu sinh ủng hộ quan điểm của Tác giả bài viết cho rằng:“Buộc tội thực chất là giả thiết cho rằng một người nào đó thực hiện hành vi phạm tội và bằng các hoạt động được Bộ luật Tố tụng hình sự 15 quy định cho phép chủ thể buộc tội đi chứng minh giả thiết đó. Đây là cơ sở lý luận của hoạt động buộc tội mà Nghiên cứu sinh cần tham khảo. Tiến sỹ luật học Nguyễn Văn Tuân với bài viết:“Bản chất, nội dung tranh tụng tại phiên tòa hình sự và vấn đề hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự” (đăng trên Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, số 09/2009).
Nội dung phân tích các quan điểm khác nhau về bản chất, nội dung tranh tụng tại phiên tòa hình sự trên cơ sở nghiên cứu hệ thống tranh tụng theo quy định của luật thực định của một số nước tiến bộ. Nghiên cứu sinh ủng hộ quan điểm của Tác giả bài viết cho rằng: “Người buộc tội có trách nhiệm chứng minh tội của bị cáo. Thông qua chức năng buộc tội tại phiên tòa, Kiểm sát viên tiến hành công tác kiểm sát hoạt động xét xử. Công tác kiểm sát hoạt động xét xử được thể hiện ở nhiều hình thức như kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định không có căn cứ và không hợp pháp của Hội đồng xét xử”.
Đây là tư tưởng làm cơ sở lý luận cho hoạt động buộc tội của Viện kiểm sát. Tuy nhiên do góc độ nghiên cứu nên Tác giả bài viết chưa gắn kết với hoạt động buộc tội của Viện kiểm sát/Kiểm sát viên tại phiên tòa còn nhằm mục đích bảo đảm thực thi quyền con người và quyền tố tụng của bị cáo mà Nghiên cứu sinh cần tham khảo hoàn thiện thêm luận án của mình. Luật sư Lê Đức Tiết với bài viết:“Kỹ năng và văn hóa tranh luận tại phiên tòa” (đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 12, tháng 6/2005) đã đưa ra quan điểm: “Mọi chứng cứ buộc tội hay gỡ tội đều phải được phản biện theo nguyên tắc: “Không phản biện được sự buộc tội là có tội, không phản biện được sự gỡ tội là không có tội” mà Nghiên cứu sinh cần tham khảo để lập luận cho quan điểm chứng minh buộc tội trong luận án. Tiến sỹ luật học Nguyễn Quang Hiền với bài viết:“Bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội” (đăng trên Tạp chí Nhà nước & Pháp luật, số 01/2010).