Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài “Bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự” do nghiên cứu sinh Nguyễn Hữu Hậu thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Đình Nhã, bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2019), chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự, mã số 9 38 01 04.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Theo trình bày của tác giả, nghiên cứu xuất phát từ các yêu cầu cấp thiết trên ba phương diện:

  1. Phương diện lý luận: Các công trình khoa học trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề bảo đảm quyền con người thông qua hoạt động xét xử của Tòa án hoặc nghiên cứu chung về chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát. Vẫn còn khoảng trống lý luận lớn xung quanh nội hàm hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát đặt trong mối quan hệ hữu cơ với việc thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội, quyền không tự buộc tội của người bị buộc tội, quyền chứng minh vô tội, quyền bào chữa và nguyên tắc tranh tụng nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án.
  2. Phương diện luật thực định: Các quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 qua thực tiễn thi hành bộc lộ nhiều bất cập, mâu thuẫn (như căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam tại Điều 79 quy định chung chung; việc gián tiếp ngầm thừa nhận quyền im lặng tại khoản 4 Điều 209). Đến Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, quyền không tự buộc tội đã được luật hóa rõ ràng (điểm d khoản 1 Điều 58, điểm c khoản 2 Điều 59, điểm d khoản 2 Điều 60, điểm h khoản 2 Điều 61) nhưng đòi hỏi phải tiếp tục được luận giải sâu sắc về mặt lý luận và cơ chế bảo đảm áp dụng thống nhất ở các giai đoạn tố tụng.
  3. Phương diện thực tiễn: Cơ chế bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội chưa thật sự đồng bộ; nhận thức về vai trò kép của Viện kiểm sát (vừa là chủ thể thực hành quyền công tố/buộc tội, vừa có trách nhiệm bảo đảm quyền con người xuyên suốt quá trình tố tụng) còn hạn chế. Thực tế giai đoạn 2009–2018 vẫn xảy ra các vụ án oan, sai, bức cung, nhục hình, lạm dụng tạm giam, trả hồ sơ điều tra bổ sung kéo dài do vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội và tư duy áp đặt tội danh.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu của luận án: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo đảm quyền con người và các quyền tố tụng của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử; chỉ ra những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân; từ đó đề xuất hệ thống quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự, các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát, phòng chống oan, sai và không bỏ lọt tội phạm.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu (gồm 5 câu hỏi):

  • Câu hỏi 1: Viện kiểm sát có vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ gì trong việc bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội? Có phải khi Viện kiểm sát thực thi trách nhiệm thì quyền con người của người bị buộc tội mới được bảo đảm và ngược lại?
  • Câu hỏi 2: Viện kiểm sát góp phần bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội bằng những phương thức nào? Cách phát hiện và xử lý hành vi vi phạm trong hoạt động của Viện kiểm sát ra sao? Các cách thức nào được người bị buộc tội sử dụng để tự bảo vệ trước những hành vi vi phạm?
  • Câu hỏi 3: Những yếu tố nào tác động đến công tác bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội? Cần điều kiện gì và yếu tố nào đang gây cản trở cho hoạt động này của Viện kiểm sát?
  • Câu hỏi 4: Xác định các tiêu chí đánh giá hiệu quả bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội hiện nay như thế nào?
  • Câu hỏi 5: Để tăng cường bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội cần có những giải pháp khả thi nào?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Tiếp cận toàn diện ở ba bình diện: lý luận (các học thuyết triết học, luật học, nhân quyền học, lý luận chứng cứ và chứng minh, chức năng tố tụng), luật thực định (Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và các văn bản liên quan), và thực tiễn thi hành pháp luật.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào hoạt động của Viện kiểm sát các cấp trong việc bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội gắn liền với quyền được suy đoán vô tội, quyền không tự buộc tội ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử (chủ yếu là thủ tục sơ thẩm và phúc thẩm); phân tích tính chất của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Luận án không đi sâu vào các đối tượng đặc thù như người dưới 18 tuổi, người nước ngoài, người dân tộc thiểu số.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát thực tiễn 10 năm (từ năm 2009 đến năm 2018).
  • Phạm vi không gian: Khảo sát trên phạm vi toàn quốc, chú trọng địa bàn trọng điểm là Thành phố Hồ Chí Minh.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu liên quan thành các nhóm chủ đề chính:

Các hướng nghiên cứu trong nước

  1. Nhóm nghiên cứu về lý luận, nguyên tắc và thiết chế bảo đảm quyền con người:

    • Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người (2009) do TS. Nguyễn Đăng Dung cùng đồng nghiệp chủ biên cung cấp nền tảng khái niệm chung.
    • TS. Lê Hữu Thể và ThS. Nguyễn Thị Hương (2017), TS. Phạm Văn Hùng (2014), TS. Tường Duy Kiên (2006) phân tích quyền con người theo Hiến pháp năm 2013 và các chuẩn mực quốc tế.
    • TS. Nguyễn Thành Long (2011) với công trình chuyên khảo về nguyên tắc suy đoán vô tội; GS.TSKH. Đào Trí Úc (2017) xác định ba yêu cầu của nguyên tắc suy đoán vô tội (trình tự thủ tục, chứng minh tội/lỗi, lôgic tư duy); Nguyễn Đức Hạnh (2015) nghiên cứu nguyên tắc bình đẳng; Nguyễn Văn Hiển (2011), TS. Nguyễn Văn Tuân (2009), LS. Lê Đức Tiết (2005), TS. Nguyễn Quang Hiền (2010), Nguyễn Mạnh Hùng (2012), TS. Đinh Thị Mai (2015) và ThS. Nguyễn Trương Tín (2009) làm rõ các chức năng tố tụng và nguyên tắc tranh tụng.
    • TS. Chu Văn Tuấn (2011, trong sách của GS.TS. Võ Khánh Vinh) khẳng định vai trò của Tòa án và Viện kiểm sát trong cơ chế bảo đảm quyền con người.
  2. Nhóm nghiên cứu về quyền bào chữa và quyền không tự buộc tội (quyền im lặng):

    • PTS.LS. Phạm Hồng Hải (1999), TS. Lương Thị Mỹ Quỳnh (2011) nghiên cứu so sánh quyền bào chữa với Đức và Mỹ; ThS. Hà Thái Thơ và ThS. Huỳnh Xuân Tình (2016) khẳng định quyền bào chữa là công cụ chống lại sự vi phạm pháp luật của chủ thể tiến hành tố tụng.
    • Võ Văn Tài và Trịnh Anh Tuấn (2015), Võ Minh Kỳ (2017), ThS. Bùi Tiến Đạt (2015), ThS. Lê Quang Thành (2015), TS.LS. Nguyễn Trọng Hải (2017) phân tích nguồn gốc, bản chất quyền không tự buộc tội và quyền im lặng.
  3. Nhóm nghiên cứu về vai trò của Viện kiểm sát và phòng, chống oan, sai:

    • Bùi Mạnh Cường (2017) nhấn mạnh việc tăng cường trách nhiệm công tố gắn với hoạt động điều tra, dẫn chứng các vụ án oan sai lớn như Nguyễn Thanh Chấn (Bắc Giang), Huỳnh Văn Nén (Bình Thuận), Trần Văn Đỡ (Sóc Trăng).
    • TS. Trần Công Phàn (2018), ThS. Lê Thị Nga (2012), ThS. Nguyễn Huy Phượng (2009), ThS. Nguyễn Trương Tín (2008), TS. Phạm Mạnh Hùng (2011), ThS. Nguyễn Thị Ngọc Diệp (2014), TS. Dương Thanh Biểu nghiên cứu về kiểm sát hoạt động tư pháp và giám sát tư pháp.

Nghiên cứu quốc tế và khoảng trống luận án giải quyết

Tác giả khảo sát mô hình tố tụng tại Hoa Kỳ (phương thức bảo đảm qua Bồi thẩm đoàn, quyền im lặng), Liên bang Nga (nguyên tắc suy đoán vô tội, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng) và Cộng hòa Pháp (quy chế tùy nghi truy tố của Viện Công tố, vai trò của luật sư).

Khoảng trống nghiên cứu: Các công trình trước đây chỉ phân tích quy phạm đơn lẻ hoặc nghiên cứu riêng rẽ từng chức năng, chưa luận giải thấu đáo cơ chế: Tại sao Viện kiểm sát vừa thực hiện chức năng buộc tội lại vừa có nghĩa vụ thu thập chứng cứ gỡ tội và chịu trách nhiệm bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội xuyên suốt các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Luận án lựa chọn giải quyết trực diện vấn đề lý luận và thực tiễn này.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và tiếp cận nghiên cứu

  • Nền tảng tư tưởng: Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp (Nghị quyết số 08-NQ/TW năm 2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW năm 2005, Chỉ thị 53-CT/TW năm 2000), tinh thần Hiến pháp năm 2013 (Điều 14, khoản 3 Điều 107) và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 (khoản 2 Điều 2).
  • Hệ thống lý thuyết chuyên ngành: Lý luận về quyền con người trong tư pháp hình sự; lý luận về chứng cứ và hoạt động chứng minh; mô hình và chức năng tố tụng hình sự (buộc tội, bào chữa, xét xử); lý luận về quyền công tố; nguyên tắc suy đoán vô tội; lý thuyết nhận thức luận và xác định chân lý khách quan.
  • Phương thức tiếp cận:
    • Tiếp cận hệ thống: Đánh giá việc bảo đảm quyền con người trong một chỉnh thể tương tác giữa các giai đoạn tố tụng.
    • Tiếp cận liên ngành và đa ngành: Kết hợp giữa khoa học luật hình sự, luật tố tụng hình sự, tội phạm học, khoa học điều tra hình sự và nhân quyền học.
    • Tiếp cận lịch sử cụ thể: Xem xét sự phát triển của các quy định pháp luật và thực tiễn tư pháp theo từng giai đoạn lịch sử.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Luận án kết hợp đa dạng các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, hệ thống hóa: Sử dụng chủ yếu tại Chương 1 và Chương 2 nhằm xây dựng khung lý thuyết, xác định khái niệm và nội hàm khoa học.
  • Phương pháp khảo sát, thống kê xã hội học, so sánh đối chiếu: Sử dụng tại Chương 3 để xử lý các chuỗi số liệu thực tiễn trong 10 năm (2009–2018) từ các báo cáo tổng kết của ngành Kiểm sát nhân dân, Báo cáo số 870/BC-UBTVQH13 năm 2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Báo cáo số 11/VKSTC năm 2015 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
  • Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình (Case study): Phân tích các vụ án cụ thể để đánh giá kỹ năng tranh tụng, luận tội của Kiểm sát viên và rút ra bài học kinh nghiệm.
  • Phương pháp tọa đàm, chuyên gia: Trao đổi ý kiến với Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Luật sư và các nhà khoa học pháp lý.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Chương này trình bày bức tranh toàn cảnh về tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến quyền con người của người bị buộc tội, nguyên tắc suy đoán vô tội, quyền im lặng và chức năng công tố của Viện kiểm sát. Tác giả chỉ ra các khoảng trống lý luận chưa được giải quyết rốt ráo, đồng thời xác định rõ những vấn đề trọng tâm cần tiếp tục làm sáng tỏ ở các chương sau:

  • Mối quan hệ giữa trách nhiệm chứng minh buộc tội và quyền không tự buộc tội.
  • Các phương thức và công cụ pháp lý đặc thù của Viện kiểm sát (quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị, trực tiếp khởi tố).
  • Các yếu tố tác động và tiêu chuẩn xác định hiệu quả bảo đảm quyền con người.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát

Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận nền tảng với các luận điểm chính:

  1. Khái niệm và đặc điểm:

    • Phân định rạch ròi các khái niệm: Bảo đảm (tạo điều kiện hiện thực hóa quyền), Bảo vệ (ngăn chặn hành vi xâm phạm) và Bảo hộ (che chở, giữ gìn).
    • Xác định khái niệm người bị buộc tội theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (điểm đ khoản 1 Điều 4), bao gồm: người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can và bị cáo.
    • Hoạt động chứng minh buộc tội được xác định là quá trình thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ để làm rõ sự thật khách quan; không chỉ bao gồm việc tìm chứng cứ buộc tội mà bắt buộc phải thu thập chứng cứ gỡ tội.
  2. Cơ chế, phương thức và yêu cầu:

    • Cơ chế bảo đảm vận hành thông qua thể chế (hệ thống pháp luật) và thiết chế (các cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó Viện kiểm sát giữ vai trò trung tâm kiểm sát tính hợp pháp).
    • Quyền không tự buộc tội được xác định là một quyền năng độc lập, không đồng nghĩa tuyệt đối với việc từ chối mọi nghĩa vụ tố tụng mà là quyền không bị ép buộc đưa ra lời khai chống lại chính mình.
    • Luận giải sự hình thành và phát triển của chế định qua các giai đoạn lập pháp tố tụng hình sự Việt Nam.

Chương 3: Thực tiễn bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát

Chương 3 khảo sát thực trạng áp dụng pháp luật trong 10 năm (2009–2018), đánh giá những kết quả đạt được, tồn tại và nguyên nhân. Số liệu thực tế được tổng hợp thông qua hệ thống bảng thống kê chuyên ngành:

Ký hiệu bảng Nội dung danh mục bảng thống kê trong luận án
Bảng 3.1 a VKS bảo đảm quyền con người qua phê chuẩn việc bắt, tạm giữ, khởi tố 10 năm (2009–2018)
Bảng 3.1 b Bảo đảm quyền con người qua việc không phê chuẩn và hủy bỏ quyết định tố tụng trái pháp luật
Bảng 3.2 VKS bảo đảm quyền con người giai đoạn điều tra
Bảng 3.3 VKS bảo đảm quyền con người giai đoạn truy tố
Bảng 3.4 VKS bảo đảm quyền con người giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự 10 năm (2009–2018)
Bảng 3.5 VKS bảo đảm quyền con người qua hạn chế án trả điều tra bổ sung 10 năm

Tác giả phân tích các hạn chế: tỷ lệ phê chuẩn bắt, tạm giữ chưa chính xác còn tồn tại; lạm dụng biện pháp tạm giam đối với tội ít nghiêm trọng; tình trạng mớm cung, bức cung, nhục hình của một số điều tra viên chưa được kiểm sát viên phát hiện và ngăn chặn kịp thời; chất lượng giám định tư pháp còn bất cập; án trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng còn ở mức cao làm kéo dài thời hạn tố tụng.

Chương 4: Quan điểm định hướng và giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động của Viện kiểm sát ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử

Chương 4 đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ:

  1. Định hướng: Quán triệt các nguyên tắc cải cách tư pháp, tôn trọng quyền con người, coi bảo vệ quyền con người là mục tiêu tối thượng của nền tư pháp dân chủ.
  2. Hoàn thiện pháp luật và hướng dẫn nghiệp vụ: Sửa đổi, hướng dẫn cụ thể các quy định về căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn; quy trình ghi âm, ghi hình có âm thanh khi hỏi cung bị can; hoàn thiện giáo trình, tài liệu tập huấn nghiệp vụ.
  3. Tăng cường hoạt động của Viện kiểm sát: Nâng cao kỹ năng kiểm sát trực tiếp các hoạt động điều tra; tăng cường trách nhiệm công tố trong giai đoạn điều tra; nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm; phát huy quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị.
  4. Giải pháp hỗ trợ khác: Tăng cường cơ chế giám sát từ cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân dân) và giám sát xã hội; nâng cao đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ tư pháp.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án nêu ra năm đóng góp khoa học chính:

  1. Xây dựng hệ thống lý luận chuyên biệt: Lần đầu tiên đưa ra một cách có hệ thống các khái niệm, đặc điểm, nội dung, ý nghĩa, cơ sở, yếu tố chi phối, yêu cầu và phương thức bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh buộc tội của Viện kiểm sát ở cả 4 giai đoạn tố tụng.
  2. Làm rõ bản chất quyền không tự buộc tội: Luận giải sâu sắc mối quan hệ giữa quyền không tự buộc tội với trách nhiệm chứng minh của cơ quan tiến hành tố tụng. Khẳng định nguyên tắc: người tiến hành tố tụng không được yêu cầu người bị buộc tội thực hiện các hành vi tự buộc tội (trực tiếp hoặc gián tiếp) khi họ thực hiện nghĩa vụ tố tụng; đồng thời xác lập bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả bảo đảm quyền con người.
  3. Đổi mới nhận thức về phương thức bảo đảm của Viện kiểm sát: Làm rõ cơ chế vận hành các quyền năng pháp lý đặc thù của Viện kiểm sát (quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị, khởi tố vụ án) thông qua hai chức năng hiến định: thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp để phòng ngừa, phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quyền con người.
  4. Tổng kết thực tiễn 10 năm (2009–2018): Phân tích toàn diện số liệu thực tế về công tác phê chuẩn bắt, tạm giữ, tạm giam, truy tố, xét xử và thực trạng án trả điều tra bổ sung; nhận diện chính xác nguyên nhân của các sai sót, oan sai và vi phạm tố tụng.
  5. Đề xuất hệ thống giải pháp khả thi: Cung cấp cơ sở khoa học để hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự, xây dựng các văn bản giải thích pháp luật, hoàn thiện giáo trình nghiệp vụ kiểm sát và đổi mới phương thức tranh tụng tại phiên tòa.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Theo giới hạn phạm vi nghiên cứu và những vấn đề đặt ra tại luận án, các nội dung định hướng nghiên cứu tiếp gồm có:

  • Về lý luận:
    • Tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu mối quan hệ giữa trách nhiệm chứng minh buộc tội và quyền im lặng của người bị buộc tội trong từng loại án cụ thể.
    • Luận giải chi tiết hơn cơ chế suy đoán vô tội và hoạt động buộc tội ở giai đoạn thủ tục đặc biệt (giám đốc thẩm, tái thẩm).
    • Phân tích các yếu tố tác động đặc thù đối với các nhóm đối tượng yếu thế (người dưới 18 tuổi, người dân tộc thiểu số, người nước ngoài).
  • Về thực tiễn:
    • Tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn áp dụng toàn diện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sau một thời gian dài đi vào đời sống thực tế.
    • Khảo nghiệm tính khả thi và hiệu quả thực tế của các giải pháp kỹ thuật tư pháp mới (như việc bắt buộc ghi âm, ghi hình có âm thanh khi hỏi cung bị can) trong việc chống bức cung, nhục hình.

Giá trị tham khảo

  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu: Là tài liệu chuyên khảo cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự tại các cơ sở đào tạo luật (Học viện Khoa học Xã hội, Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, v.v.).
  • Đối với cơ quan lập pháp và ban hành chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn để phục vụ việc rà soát, sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự và các đạo luật tư pháp liên quan.
  • Đối với hoạt động thực tiễn tư pháp: Là tài liệu tham khảo cho Kiểm sát viên, Điều tra viên, Thẩm phán và Luật sư trong việc nắm vững kỹ năng chứng minh, kỹ năng tranh tụng, nhận diện vi phạm và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định người bị buộc tội gồm những chủ thể nào theo pháp luật hiện hành?

Căn cứ theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 4 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, luận án xác định người bị buộc tội gồm 4 diện đối tượng: người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can và bị cáo. Tư cách và quyền lợi tố tụng của từng chủ thể được thiết lập tương ứng với các quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền từ thời điểm bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cho đến khi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật.

2. Viện kiểm sát vừa là cơ quan buộc tội, vừa bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội có mâu thuẫn không?

Theo luận giải của tác giả, điều này không mâu thuẫn mà là bản chất của nền tố tụng xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền. Viện kiểm sát nhân danh Nhà nước thực hành quyền công tố nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án. Do đó, hoạt động chứng minh của Kiểm sát viên bắt buộc phải thu thập cả chứng cứ buộc tội lẫn chứng cứ gỡ tội. Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát hoạt động tư pháp để giám sát việc tuân theo pháp luật của Cơ quan điều tra và Tòa án, ngăn ngừa bức cung, nhục hình, đảm bảo việc xử lý đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội.

3. Bản chất của quyền không tự buộc tội được luận án làm sáng tỏ như thế nào?

Quyền không tự buộc tội (được ghi nhận tại các điều 58, 59, 60, 61 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015) nghĩa là người bị buộc tội có quyền trình bày lời khai, đưa ra ý kiến nhưng không bị bắt buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc nhận mình có tội. Các chủ thể tiến hành tố tụng có nghĩa vụ chứng minh tội phạm và không được phép yêu cầu hoặc ép buộc người bị buộc tội thực hiện các hành vi tự buộc tội trực tiếp hoặc gián tiếp. Sự im lặng của người bị buộc tội không được coi là căn cứ để kết tội.

4. Dữ liệu thực tiễn trong luận án được khảo sát trong giai đoạn nào và tập trung vào các vấn đề gì?

Dữ liệu thực tiễn được khảo sát trong 10 năm (2009–2018) trên phạm vi cả nước (chú trọng Thành phố Hồ Chí Minh). Các vấn đề trọng tâm được định lượng qua số liệu gồm: công tác phê chuẩn/không phê chuẩn việc bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố; việc hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật; thực trạng tạm giam đối với tội ít nghiêm trọng; án trả hồ sơ để điều tra bổ sung; và việc xử lý các trường hợp oan sai, bức cung, nhục hình.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hữu Hậu đã giải quyết một vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách trong khoa học luật tố tụng hình sự Việt Nam: cơ chế bảo đảm quyền con người của người bị buộc tội trong hoạt động chứng minh của Viện kiểm sát. Bằng việc kết hợp tiếp cận liên ngành và khảo sát số liệu thực tiễn 10 năm (2009–2018), công trình đã làm sáng tỏ mối quan hệ giữa quyền công tố, trách nhiệm chứng minh và nguyên tắc suy đoán vô tội, quyền không tự buộc tội. Các kết quả nghiên cứu và hệ thống giải pháp được đề xuất là tài liệu chuyên khảo có giá trị cao cho công tác lập pháp, đào tạo và hoạt động thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng.