đặt vấn đề không? - Có tiếp nhận nhiệm vụ học tập không? - Có nghe GV giảng hoặc nghe bạn phát biểu không? - Có đọc tìm hiểu vấn đề trong SGK, tìm hiểu bảng số liệu, quan sát hiện tƣợng tự nhiên hoặc trong thí nghiệm hoặc làm thí nghiệm lấy số liệu không? - Có thảo luận nhóm hoặc làm việc cá nhân không? - Có tìm hiểu các thông tin liên quan, lập bảng, vẽ đồ thị.nhận xét về tính quy luật của hiện tƣợng không? - Có trả lời câu hỏi của GV, tranh luận với bạn bè trong nhóm hoặc trong lớp không? - Có giải bài tập, ghi câu hỏi, bài tập về nhà, ghi những chuẩn bị cho bài sau không? - Có tiến bộ trong học tập không? - Kết quả bài kiểm tra, đánh giá của nhà trƣờng có tốt không? 1. Tính tự lực. Tính tự lực là một trong những phẩm chất trọng tâm của nhân cách, thể hiện ở: Sự tự làm lấy, tự giải quyết vấn đề, không ỷ lại, nhờ cậy ngƣời khác. Sự tự làm lấy bắt đầu từ những việc đơn giản nhƣ tự uống, tự ăn, tự thu dọn đồ chơi.những sự tự làm hoàn chỉnh bắt đàu từ việc đạt mục đích đề ra và thảo mãn yêu cầu xã hội.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Nếu đặc trƣng chủ yếu của tính tích cực là sự nỗ lực bản thân, thì đặc trƣng của tính tự lực lại ở mối quan hệ với ngƣời khác: không dựa dẫm vào ngƣời khác, hết sức tiết kiệm nhờ cậy [21] Nhìn chung có hai loại tính tự lực: - Tính tự lực nhận thức - Tính tự lực hành động Tính tự lực là một phẩm chất tổng hợp, liên quan đến những phẩm chất và năng lực khác, nhƣ: - Kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo: đây là những nhân tố rất quan trọng để tạo nên tính tự lực, vì chỉ có thể tự lực hoạt động khi nhận thức sâu sắc bản chất của sự vật hiện tƣợng và nắm chắc phƣơng pháp hoạt động. - Niềm tin vào sự đúng đắn của công việc mình làm, vào năng lực bản thân. Niềm tin này tạo ra sự vững vàng, sự kiên định về tâm thể, không dao động trƣớc những tác động từ bên ngoài. - Có tình cảm, hứng thú, yêu thích kết quả và quá trình tự hoạt động.
Những yếu tố này kích thích tự giác của hoạt động mà không phải dùng sức mạnh của ý chí. - Có nhu cầu, động cơ. Nhu cầu và động cơ càng mạnh thì tính tự lực càng cao. - Có sự nỗ lực của ý chí.
- Thế chất tốt và có lòng dũng cảm, đây là cơ sở vật chất cần thiết đảm bảo cho hoạt động tự lực. - Có tính quyết đoán, dứt khoát, rõ ràng, không chần chừ, do dự. - Có tính mục đích và tính kỉ luật. - Tính kiên trì, nhẫn lại, không sờn lòng nản chí trƣớc khó khăn.
- Tính kế hoạch năng lực tổ chức làm cho hoạt động tự lực đạt hiệu quả. - Thói quen tự lực, không trông chờ, ỷ lại cũng là một phẩm chất cần đƣợc rèn luyện từ nhỏ để trở thành một thói quen, một phản xạ tự nhiên của con ngƣời mà không cần vận dụng sức mạnh của trí tuệ và ý chí. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www. Những biểu hiện của tính tự lực.
Tính tự lực có ở mọi ngƣời, tuy nhiên mức độ thể hiện tùy thuộc vào đặc điểm cá nhân, điều kiện sống và điều kiện giáo dục. Tính tự lực của HS biểu hiện ở sự chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng tự khẳng định mình trong tập thể, trong lao động, trong học tập, giao tiếp và trong lĩnh vực khác nhau của chế độ sinh hoạt, cụ thể là [5]: * Nguyện vọng giải quyết các nhiệm vụ hoạt động một cách độc lập. Nguyện vọng này giúp HS hoạt động tích cực trong thời gian dài, đòi hỏi ở họ khả năng tập trung chú ý cao độ. Đó là biểu hiện của nhu cầu tự khẳng định mình là kết quả của quá trình nhận thức về giá trị tự lực và rèn luyện thói quen tự lực.
* Có biểu hiện những kĩ năng thực hiện hoạt động tự lực Có thể khái quát một số kĩ năng thực hiện hoạt động tự lực của HS trong các điều kiện cụ thể nhƣ sau: - Kĩ năng thực hiện hoạt động sáng kiến của mình, nhận thức sự cần thiết tham gia vào hoạt động này hay hoạt động khác. - Kĩ năng thực hiện các công việc quen thuộc không có sự đòi hỏi giúp đỡ từ xung quanh hoặc sự kiểm tra từ ngƣời lớn. - Kĩ năng thực hiện hành động có ý thức trong những tình huống có sẵn ( hành động theo sự chỉ dẫn, theo mẫu.) - Kĩ năng thực hiện hoạt động trong những điều kiện mới (tự đặt mục đích, chiếu cố điều kiện hoạt động, thực hiện và lập kế hoạch đơn giản). - Kĩ năng di chuyển cách thức hoạt động đã biết vào hoàn cảnh mới, tổng hợp chúng và phân loại chúng theo kinh nghiệm, kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo đã có, thể hiện cách làm sáng tạo.
- Kĩ năng tự kiểm tra đánh giá sản phẩm, hoạt động ở mức độ đơn giản. * Có sự nỗ lực của ý chí. Ý chí của HS thể hiện sức mạnh tinh thần và thể lực giúp HS tạo dựng những giá trị vật chất và tinh thần, thảo mãn nhu cầu cá nhân, tính tự lực thể hiện ở kĩ năng biết vƣợt khó khăn để đạt mục đích. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ * Niềm tin vào bản thân.
Niềm tin tạo cho HS nghị lực, ý chí để hành động, tạo ra cho họ tính kiên định khi hành động, giúp họ có nhu cầu, trạng thái hành động dựa trên năng lực của bản thân, tin tƣởng, yêu quý trân trọng mình. Sự tự tin quyết định tính nguyên tắc và tính kiên định trong suất quá trình hành động. Tự tin thể hiện ở yêu cầu cao đối với bản thân trong quá trình hành động. Các yếu tố tạo nên sự tự tin ở HS là: - Đánh giá cao về bản thân; hiểu rõ bản thân; có mục tiêu rõ ràng trong hoạt dộng và dễ dàng lựa chọn mục đích hoạt động; hành động dứt khoát, quyết đoán; sống lạc quan, yêu đời.
Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu môn Vật lý của HS. * Về tài liệu học tập của HS. Tài liệu nên trình bày dƣới dạng những câu hỏi, kèm theo những hƣớng dẫn, gợi ý về đáp án là khá thích hợp, nhƣng với phần đáp án chỉ là ý chính, đƣa ra kết quả. Chẳng hạn nhƣ đi đến một công thức nào đó ta chỉ đƣa ra một vài kết quả có tính định hƣớng để đi đến chứ ta không làm một cách cụ thể.
Với cách này thì nói chung nó chỉ mang tính hƣớng dẫn để đi đến cái đích, còn muốn đạt đƣợc thì cần phải có sự nỗ lực rất lớn của bản thân ngƣời học. GV cũng nên căn cứ vào thực trạng việc dạy và học, mục tiêu đào tạo của từng địa phƣơng, từng trƣờng và chuẩn tài liệu của bộ giáo dục để có thể biên soạn lại giáo trình cho phù hợp với mục tiêu phát huy tính tự học của HS. Song song với đổi mới tài liệu học tập PPDH cũng không phải là không bàn tới. Trong vấn đề DH, GV cần phải hiểu rằng không có một PPDH nào là vạn năng.
Vì vậy, tùy thuộc vào hoàn cảnh, mục tiêu đặt ra mà GV phải biến đổi linh hoạt hoặc kết hợp với nhiều PP, nhƣng vẫn giữ cái cốt yếu là phát huy tính tích cực, tự lực, tự nghiên cứu của ngƣời học. Với cách dạy và học này thì GV không đóng vai trò chính, GV Chỉ trình bày mục đích của bài học là làm gì, là Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ ngƣời hƣớng dẫn gợi ý để làm đƣợc điều này thì chúng ta phải làm thế nào? Còn con đƣờng đạt đƣợc là phải tự do ngƣời học tự đƣa ra và tự tiến hành. GV phải mạnh dạn giao nhiệm vụ cho HS, chẳng hạn nhƣ tự đọc giáo trình,tài liệu sau đó trình bày trƣớc lớp, trƣớc nhóm theo cách hiểu đƣợc của mình. Với cách dạy này, GV không đóng vai trò chính, không phải là “trung tâm” mà là “lấy ngƣời học là trung tâm”.
Ngoài ra, chúng ta cũng phải cần đến việc sử dụng CNTT hiện đại vào trong việc DH, vì do đặc thù của môn vật lý là vừa dùng lý luận logic toán học để biểu diễn, vừa dùng công cụ thí nghiệm để kiểm chứng hoặc ngƣợc lại. Nên theo chúng tôi phòng thí nghiệm, dụng cụ thí nghiệm cho môn vật lý phải đƣợc chú trọng đầu tƣ đầy đủ. Trong quá trình nâng cao chất lƣợng của việc tự học, tự nghiên cứu chúng ta không những không đổi mới về nội dung, về phƣơng pháp mà còn phải đổi mới về nhận thức của ngƣời học. Ngƣời học phải biết cần phải học cái gì và học nhƣ thế nào để có hiệu quả, đó là vấn đề cần quan tâm hiện nay.
Tiêu chí đánh giá. GV có thể dựa vào những biểu hiện cụ thể sau đây làm tiêu chí đánh giá tính tự lực của HS: - Có nguyện vọng giải quyết các nhiệm vụ hoạt động một cách độc lập. - Có những kĩ năng thực hiện hoạt động tự lực. - Có sự nỗ lực của ý chí.
- Có niềm tim vào bản thân. Các bài kiểm tra, trắc nghiệm đƣợc sử dụng để đánh giá thành tích học tập, xác nhận trình độ kiến thức, kĩ năng của HS. Cơ sở lí luận của hoạt động OTCC. OTCC và mục đích của OTCC.
Theo từ điển tiếng Việt năm 2008 của Viện khoa học Việt Nam: Ôn tập là học để nhớ học để nắm chắc; Ôn tập là hệ thống hóa lại kiến thứcđã dạy để HS nắm chắc chƣơng trình[22]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Theo từ điển tiếng Việt mới của trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội (Hoàng Phê chủ biên) và từ điển tiếng Việt chuyên nghành thì: Ôn tập là học và luyện lại những điều đã học để nắm chắc, để nhớ lâu. Nhƣ vậy, ôn tập có thể đƣợc hiểu là quá trình học lại và luyện lại những điều đã học để nhớ, để cho kiến thức trở nên bền vững, chắc chắn hơn. Theo các nhà tâm lí học [11]: Ôn tập không chỉ để nhớ lại mà còn là sự cấu trúc lại các thông tin đã lĩnh hội, sắp xếp các thông tin đó theo một cấu trúc mới kết hợp với những mẫu kiến thức cũ để tạo ra sự hiểu biết mới.
Khi cần có thể tái hiện lại những thông tin và sử dụng những thông tin đó có hiệu quả cho nhiều hoạt động khác nhau.