Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn 2011 - 2017 chứng kiến bước chuyển mình vượt bậc của ngoại thương Việt Nam khi kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng từ 96,91 tỷ USD năm 2011 lên tới 214 tỷ USD vào năm 2017, đạt mức tăng trưởng bình quân trên 14%/năm và thặng dư thương mại đạt kỷ lục 2,7 tỷ USD. Tuy nhiên, hoạt động ngoại thương vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng: hơn 65% giá trị xuất khẩu phụ thuộc vào khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), các mặt hàng chủ lực đa số gia công thô với giá trị gia tăng thấp, và hoạt động xúc tiến xuất khẩu còn phân tán, nhỏ lẻ.

Luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên ngành Kinh tế quốc tế của tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân tập trung giải quyết bài toán cốt lõi: Làm thế nào để nâng cao hiệu lực, tính đồng bộ và tính chuyên nghiệp trong công tác xây dựng và triển khai các chương trình xúc tiến xuất khẩu quốc gia do Bộ Công Thương chủ trì. Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu gồm ba nội dung trọng tâm: hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về xúc tiến xuất khẩu quốc gia; phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng thực hiện chương trình giai đoạn 2011 - 2017; xác lập phương hướng và hệ thống giải pháp hoàn thiện đến năm 2025.

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ các đề án xúc tiến xuất khẩu cấp quốc gia tại Việt Nam và mạng lưới thị trường trọng điểm quốc tế trong giai đoạn 2011 - 2017. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học giúp tối ưu hóa nguồn ngân sách nhà nước bình quân 60 - 76 tỷ đồng mỗi năm, hỗ trợ hơn 3.800 lượt doanh nghiệp thường niên tiếp cận hiệu quả trên 200 thị trường đối tác toàn cầu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết thương mại quốc tế cổ điển và hiện đại, đặc biệt là lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo và lý thuyết lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter. Bên cạnh đó, tác giả vận dụng lý thuyết xúc tiến thương mại quốc tế thuộc mô hình Marketing hỗn hợp 4P (Product, Price, Place, Promotion), trong đó xúc tiến xuất khẩu được định vị là công cụ chiến lược của chính phủ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua các rào cản thông tin và gia nhập thị trường thế giới.

Khung phân tích của đề tài vận hành dựa trên mô hình quy trình quản trị công 16 bước đối với chương trình xúc tiến thương mại quốc gia. Mô hình này bao quát toàn bộ chu trình từ định hướng chiến lược, hướng dẫn, tiếp nhận, thẩm định, phê duyệt của Bộ Công Thương đến ký hợp đồng, giám sát, nghiệm thu và thanh quyết toán theo Quyết định số 72/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Năm khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Xúc tiến thương mại, Xúc tiến xuất khẩu quốc gia, Đề án xúc tiến trọng điểm, Hội chợ triển lãm thương mại định hướng xuất khẩu, và Thâm nhập thị trường quốc tế. Các cơ chế định mức chi trả ngân sách nhà nước, dao động từ 1,5 triệu đồng cho việc cung cấp thông tin thị trường đến 200 triệu đồng cho một gian hàng hội chợ quốc tế, đóng vai trò là các biến số đo lường hiệu quả can thiệp chính sách.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện và chính thống thu thập từ Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan, Cục Xúc tiến thương mại - Bộ Công Thương, Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC) và các hiệp hội ngành hàng lớn như Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP).

Về phương pháp phân tích, tác giả kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp thống kê mô tả, phân tích định lượng dữ liệu chuỗi thời gian, so sánh đối chiếu đa chiều và phương pháp chuyên gia định tính. Việc lựa chọn phương pháp phân tích tổng hợp dữ liệu chính sách kết hợp tham vấn chuyên gia là tối ưu nhất vì các đề án xúc tiến chịu tác động sâu sắc bởi bối cảnh kinh tế vĩ mô và tính đặc thù của từng ngành hàng, nơi các số liệu định lượng thuần túy không phản ánh hết chất lượng thực thi.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 331 đề án xúc tiến xuất khẩu quốc gia đã được Bộ Công Thương phê duyệt và thực hiện trong suốt 7 năm từ 2011 đến 2017, với tổng kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ đạt trên 440 tỷ đồng, kết nối hơn 22.000 lượt doanh nghiệp tham gia. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ (census sampling) đối với các đề án được phê duyệt giúp loại bỏ hoàn toàn sai số chọn mẫu, bảo đảm bức tranh thực trạng có độ tin cậy và giá trị khoa học cao nhất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, chương trình xúc tiến xuất khẩu quốc gia đã đóng vai trò bệ phóng thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu vượt bậc và cải thiện ngoạn mục cán cân thương mại. Kim ngạch xuất khẩu của cả nước tăng từ 96,91 tỷ USD năm 2011 lên 214 tỷ USD năm 2017, tương đương mức tăng trưởng 120,8%. Cán cân thương mại chuyển đổi tích cực từ trạng thái nhập siêu liên tục sang xuất siêu 2,7 tỷ USD vào năm 2017.

Thứ hai, quy mô và số lượng đề án xúc tiến có sự mở rộng đáng kể. Số lượng đề án tăng từ 31 đề án với kinh phí 36,49 tỷ đồng năm 2011 lên đỉnh điểm 68 đề án với kinh phí 76,54 tỷ đồng vào năm 2015, tăng 109,7% về giá trị tài trợ. Số lượt doanh nghiệp tham gia tăng từ 2.250 lượt năm 2011 lên 5.527 lượt năm 2015, tương ứng mức tăng 145,6%, mang lại giá trị hợp đồng ký kết đạt đỉnh 1,876 tỷ USD vào năm 2014.

Thứ ba, cơ cấu thị trường xuất khẩu có sự phân hóa sâu sắc. Năm 2017, Châu Á là điểm đến lớn nhất với kim ngạch 111,017 tỷ USD (chiếm 51,8% tổng kim ngạch), tiếp theo là Châu Mỹ đạt 52,332 tỷ USD, Châu Âu đạt 43,002 tỷ USD, Châu Đại Dương đạt 4,104 tỷ USD và Châu Phi. Cả nước có 28 thị trường xuất khẩu đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD và hơn 25 mặt hàng xuất khẩu chủ lực vượt mốc 1 tỷ USD trong năm 2016.

Thứ tư, công tác phân bổ nguồn lực còn nhiều bất cập và manh mún. Hơn 80% kinh phí xúc tiến vẫn dồn vào các hoạt động truyền thống như hội chợ, triển lãm. Các định mức hỗ trợ như 1,5 triệu đồng cho nghiên cứu thị trường hay 2 triệu đồng cho thuê chuyên gia tư vấn là quá thấp so với thực tế chi phí, làm giảm sức hấp dẫn đối với các chương trình tư vấn nâng cao chất lượng chuyên sâu.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những hạn chế trên bắt nguồn từ việc nguồn ngân sách nhà nước cấp cho xúc tiến thương mại còn quá khiêm tốn so với quy mô kim ngạch 214 tỷ USD của nền kinh tế. Năng lực xây dựng đề án của các hiệp hội ngành hàng và đơn vị chủ trì địa phương chưa đồng đều, dẫn đến tình trạng trùng lặp về nội dung và địa bàn xúc tiến.

Khi so sánh với kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra rằng Tổ chức Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Hàn Quốc (KOTRA) và Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) thành công vượt trội là nhờ cơ chế tập trung hóa nguồn lực. Nhật Bản đã thông qua JETRO để điều chỉnh chính sách thương mại, thúc đẩy xuất khẩu tăng 16% vào năm 2007 nhờ hệ thống kiểm định chất lượng khắt khe và văn phòng đại diện sâu sát tại thị trường bản địa. Ngược lại, tại Việt Nam, sự thiếu vắng cơ chế điều phối liên ngành tập trung khiến hiệu quả lan tỏa của các chương trình xúc tiến chưa tương xứng với tiềm năng.

Về phương thức biểu diễn dữ liệu khoa học, mối tương quan giữa kinh phí nhà nước hỗ trợ và giá trị hợp đồng ký kết được thể hiện rõ nét nhất qua mô hình biểu đồ kết hợp (combo chart), phản ánh độ trễ chính sách giữa chi ngân sách và giá trị hợp đồng tạo ra. Đồng thời, cấu trúc thị trường xuất khẩu năm 2017 được minh họa trực quan qua biểu đồ hình tròn phân chia theo năm châu lục, làm nổi bật sự thống trị của thị trường Châu Á và tiềm năng mở rộng sang khu vực Châu Âu, Châu Mỹ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cơ cấu danh mục và số hóa quy trình thực hiện đề án xúc tiến. Bộ Công Thương và Cục Xúc tiến thương mại cần xây dựng nền tảng cơ sở dữ liệu thương mại số tích hợp trước năm 2022. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ trọng các đề án xúc tiến trực tuyến và thương mại điện tử xuyên biên giới lên tối thiểu 30% tổng số đề án hàng năm, rút ngắn 25% thời gian thẩm định và phê duyệt hồ sơ.

Thứ hai, điều chỉnh định mức kinh phí và đẩy mạnh xã hội hóa nguồn tài chính. Bộ Tài chính chủ trì phối hợp cùng Bộ Công Thương sửa đổi khung chính sách tài chính trong giai đoạn 2020 - 2023. Cần nâng mức trần hỗ trợ hội chợ quốc tế từ 200 triệu đồng lên mức 300 - 350 triệu đồng/doanh nghiệp, đồng thời tăng định mức thuê chuyên gia tư vấn thiết kế và thương hiệu từ 2 triệu đồng lên 20 - 30 triệu đồng/đơn vị. Mục tiêu huy động nguồn vốn đối ứng từ khu vực tư nhân đạt tỷ lệ 40 - 50% tổng kinh phí đề án.

Thứ ba, tập trung phát triển thị trường gắn liền với việc tận dụng các FTA thế hệ mới. Các hiệp hội ngành hàng xuất khẩu chủ lực như VASEP, Hiệp hội Dệt may, Hiệp hội Da giày cùng hệ thống Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài triển khai đồng bộ giải pháp thâm nhập sâu vào khối EU, Bắc Mỹ và các nước thành viên CPTPP giai đoạn 2019 - 2025. Chỉ tiêu đặt ra là duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vào các khối thị trường có FTA đạt từ 12% đến 15%/năm, nâng tổng số mặt hàng xuất khẩu trên 1 tỷ USD lên con số 35 vào năm 2025.

Thứ tư, chuẩn hóa năng lực nhân sự và hoàn thiện quy chế giám sát, nghiệm thu. Ban Quản lý Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia phối hợp các viện nghiên cứu tổ chức đào tạo thường niên cho 100% cán bộ chuyên trách xúc tiến tại các hiệp hội và địa phương trong giai đoạn 2021 - 2025. Thiết lập hệ thống đánh giá chỉ số hiệu quả công việc (KPI) bắt buộc sau 6 tháng kết thúc đề án, kiên quyết loại bỏ các đơn vị chủ trì không đạt cam kết về doanh số hợp đồng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Lãnh đạo và chuyên viên tại Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương các tỉnh, thành phố. Luận văn cung cấp căn cứ thực chứng toàn diện để tái thiết kế chính sách hỗ trợ xuất khẩu, hoàn thiện quy trình 16 bước quản lý đề án và phân bổ hiệu quả nguồn ngân sách thường niên từ 60 đến 76 tỷ đồng.

Nhóm hiệp hội ngành hàng và tổ chức xúc tiến thương mại: Ban lãnh đạo các hiệp hội xuất khẩu lớn (nông sản, thủy sản, dệt may, gỗ, cơ khí) và các Trung tâm Xúc tiến thương mại địa phương. Luận văn là cẩm nang hướng dẫn phương pháp xây dựng đề án chuẩn quy cách, tối ưu hóa hồ sơ thẩm định để nhận mức hỗ trợ tối đa lên đến 200 triệu đồng cho mỗi hoạt động xúc tiến quốc tế.

Nhóm doanh nghiệp xuất khẩu và cộng đồng khởi nghiệp: Các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) trong lĩnh vực sản xuất hàng hóa công nghiệp và nông sản chế biến. Doanh nghiệp có thể nắm bắt rõ ràng quyền lợi hỗ trợ chi phí vé máy bay, gian hàng hội chợ quốc tế và tận dụng thông tin thị trường để tiếp cận trên 28 thị trường xuất khẩu trọng điểm có quy mô trên 1 tỷ USD.

Nhóm giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Giảng viên và sinh viên thuộc các khối ngành Kinh tế quốc tế, Thương mại quốc tế, Logistics và Quản trị kinh doanh. Công trình cung cấp hệ thống số liệu chuỗi thời gian 2011 - 2017 chi tiết, phương pháp luận nghiên cứu chính sách ngoại thương chuẩn mực và khung phân tích bài học quốc tế từ Nhật Bản, Hàn Quốc.

Câu hỏi thường gặp

Chương trình xúc tiến xuất khẩu quốc gia đóng góp như thế nào vào bức tranh ngoại thương Việt Nam? Chương trình là đòn bẩy trực tiếp thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng từ 96,91 tỷ USD năm 2011 lên 214 tỷ USD năm 2017. Trung bình mỗi năm, chương trình hỗ trợ từ 2.250 đến 5.527 lượt doanh nghiệp tham gia hàng chục đề án lớn, mang lại giá trị hợp đồng giao thương trực tiếp từ 560 triệu USD đến hơn 1,87 tỷ USD, góp phần quan trọng vào mức thặng dư thương mại 2,7 tỷ USD.

Doanh nghiệp tham gia hội chợ triển lãm ở nước ngoài được nhà nước hỗ trợ cụ thể những khoản chi phí nào? Căn cứ theo quy định tại Quyết định số 72/2010/QĐ-TTg, doanh nghiệp tham gia hội chợ triển lãm chuyên ngành quốc tế được nhà nước hỗ trợ 100% chi phí thuê mặt bằng, thiết kế, dàn dựng gian hàng với mức trần tối đa 200 triệu đồng cho một đơn vị. Điều kiện bắt buộc là đoàn tham gia phải có quy mô tối thiểu từ 7 doanh nghiệp và 7 gian hàng tiêu chuẩn (kích thước 3m x 3m).

Hạn chế lớn nhất trong công tác xây dựng và triển khai các đề án xúc tiến giai đoạn 2011 - 2017 là gì? Hạn chế lớn nhất là tính phân tán, quy mô đề án còn nhỏ lẻ và kinh phí hỗ trợ nghiên cứu thông tin thị trường quá thấp, chỉ tối đa 1,5 triệu đồng mỗi đơn vị. Sự phối hợp giữa các hiệp hội ngành hàng và cơ quan quản lý chưa thực sự đồng bộ, khiến khối doanh nghiệp trong nước mới chỉ đóng góp khoảng 33% tổng kim ngạch, trong khi hơn 66% vẫn phụ thuộc khu vực FDI.

Mô hình xúc tiến của Nhật Bản và Hàn Quốc mang lại bài học then chốt nào cho Việt Nam? Bài học cốt lõi là tập trung hóa đầu mối quản lý xúc tiến quốc gia tương tự như mô hình KOTRA của Hàn Quốc và JETRO của Nhật Bản. Nhà nước cần đầu tư nguồn lực ngân sách thỏa đáng, đẩy mạnh nghiên cứu thị trường chiến lược, đồng thời thiết lập quy chuẩn kiểm tra chất lượng hàng xuất khẩu khắt khe để bảo vệ uy tín thương hiệu quốc gia trên thị trường quốc tế.

Định hướng xúc tiến xuất khẩu của Bộ Công Thương giai đoạn đến năm 2025 ưu tiên những thị trường nào? Định hướng đến năm 2025 tập trung khai thác chiều sâu các thị trường đã ký kết FTA, củng cố vững chắc thị phần nông lâm thủy sản tại Liên minh Châu Âu (EU) và Bắc Mỹ với kim ngạch hàng chục tỷ USD. Đồng thời, chương trình đẩy mạnh mở rộng các thị trường giàu tiềm năng như Liên bang Nga, Đông Âu, Mỹ La-tinh, Trung Đông và Châu Phi.

Kết luận

  • Kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng vượt bậc từ 96,91 tỷ USD năm 2011 lên 214 tỷ USD năm 2017, đưa cán cân thương mại đạt mức thặng dư kỷ lục 2,7 tỷ USD.
  • Chương trình xúc tiến xuất khẩu quốc gia đã triển khai 331 đề án với tổng kinh phí hỗ trợ trên 440 tỷ đồng, kết nối hơn 22.000 lượt doanh nghiệp tham gia ký kết hợp đồng thương mại quốc tế.
  • Khung lý thuyết và mô hình quy trình 16 bước được hệ thống hóa chuẩn mực, cung cấp cơ sở khoa học vững chắc để đánh giá toàn diện các chính sách xúc tiến ngoại thương cấp quốc gia.
  • Các giải pháp đột phá về điều chỉnh định mức kinh phí hội chợ lên 300 - 350 triệu đồng, số hóa hoạt động xúc tiến và tập trung khai thác thị trường FTA là nền tảng chiến lược then chốt đến năm 2025.
  • Nghiên cứu đóng góp hệ thống cứ liệu thực chứng quý báu, định hình phương thức liên kết chặt chẽ giữa Bộ Công Thương, các hiệp hội ngành hàng và cộng đồng doanh nghiệp xuất khẩu.

Để tối ưu hóa năng lực cạnh tranh và hiện thực hóa mục tiêu xuất khẩu bền vững đến năm 2025, các cơ quan quản lý, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp hãy chủ động nghiên cứu, tham khảo toàn văn luận văn nhằm áp dụng hiệu quả các đề xuất giải pháp vào thực tiễn quản trị và thương mại quốc tế.