Luận án tiến sĩ luật học: Xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật thị trường chứng khoán ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ luật học phân tích xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật thị trường chứng khoán tại Việt Nam, đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế.

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ luật học

2002

207
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ KHUNG PHÁP LUẬT THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

1.1. Khái quát về thị trường chứng khoán

1.2. Quan niệm về khung pháp luật thị trường chứng khoán

1.3. Đặc điểm cơ bản của quá trình hình thành khung pháp luật thị trường chứng khoán Việt Nam

1.4. Vai trò của khung pháp luật thị trường chứng khoán

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHUNG PHÁP LUẬT THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

2.1. Về các nguyên tắc pháp lý cơ bản của khung pháp luật thị trường chứng khoán

2.2. Thực trạng pháp luật thị trường chứng khoán Việt Nam

3. CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LUẬT THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

3.1. Những căn cứ cho việc đề ra định hướng và giải pháp xây dựng, hoàn thiện khung pháp luật thị trường chứng khoán

3.2. Một số định hướng cơ bản của việc tiếp tục xây dựng, hoàn thiện khung pháp luật thị trường chứng khoán Việt Nam

3.3. Những giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp luật thị trường chứng khoán Việt Nam

KẾT LUẬN

NHỮNG CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Lý luận về thị trường chứng khoán và khung pháp luật thị trường chứng khoán

Chương này tập trung vào việc làm rõ các khái niệm cơ bản về thị trường chứng khoánkhung pháp luật thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán được xem là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế thị trường, nơi diễn ra các giao dịch mua bán chứng khoán. Khung pháp luật thị trường chứng khoán bao gồm các nguyên tắc pháp lý và quy định điều chỉnh hoạt động của thị trường này. Luận án nhấn mạnh vai trò của khung pháp luật trong việc đảm bảo sự vận hành ổn định và minh bạch của thị trường chứng khoán. Đặc biệt, luận án phân tích quá trình hình thành và phát triển khung pháp luật thị trường chứng khoán tại Việt Nam, từ giai đoạn đầu tiên đến những cải cách gần đây.

1.1. Khái quát về thị trường chứng khoán

Phần này trình bày các khái niệm cơ bản về thị trường chứng khoán, bao gồm định nghĩa, cấu trúc và chức năng của thị trường. Thị trường chứng khoán được xem là một kênh huy động vốn hiệu quả cho các doanh nghiệp và là công cụ đầu tư quan trọng cho các nhà đầu tư. Luận án cũng phân tích các loại chứng khoán phổ biến như cổ phiếu, trái phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư, đồng thời nhấn mạnh tính thanh khoản và rủi ro của các loại chứng khoán này.

1.2. Khung pháp luật thị trường chứng khoán

Phần này tập trung vào việc định nghĩa và phân tích khung pháp luật thị trường chứng khoán. Khung pháp luật này bao gồm các nguyên tắc pháp lý cơ bản và các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động của thị trường chứng khoán. Luận án nhấn mạnh vai trò của khung pháp luật trong việc đảm bảo sự minh bạch, công bằng và hiệu quả của thị trường. Đồng thời, luận án cũng phân tích quá trình hình thành và phát triển khung pháp luật thị trường chứng khoán tại Việt Nam, từ những quy định đầu tiên đến những cải cách gần đây.

II. Thực trạng khung pháp luật thị trường chứng khoán tại Việt Nam

Chương này đánh giá thực trạng khung pháp luật thị trường chứng khoán tại Việt Nam. Luận án chỉ ra những thành tựu đã đạt được trong việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật, đồng thời cũng nêu lên những hạn chế và bất cập còn tồn tại. Cụ thể, luận án phân tích các quy định pháp luật hiện hành về phát hành chứng khoán, kinh doanh chứng khoán và quản lý thị trường chứng khoán. Luận án cũng đánh giá mức độ hiệu quả của các quy định này trong việc đảm bảo sự vận hành ổn định và minh bạch của thị trường chứng khoán tại Việt Nam.

2.1. Các nguyên tắc pháp lý cơ bản

Phần này phân tích các nguyên tắc pháp lý cơ bản của khung pháp luật thị trường chứng khoán, bao gồm nguyên tắc minh bạch, công bằng và bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư. Luận án nhấn mạnh tầm quan trọng của các nguyên tắc này trong việc đảm bảo sự vận hành ổn định và hiệu quả của thị trường chứng khoán. Đồng thời, luận án cũng chỉ ra những hạn chế trong việc áp dụng các nguyên tắc này trong thực tiễn tại Việt Nam.

2.2. Thực trạng pháp luật thị trường chứng khoán

Phần này đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành về thị trường chứng khoán tại Việt Nam. Luận án phân tích các quy định về phát hành chứng khoán, kinh doanh chứng khoán và quản lý thị trường chứng khoán, đồng thời chỉ ra những hạn chế và bất cập còn tồn tại. Luận án cũng đánh giá mức độ hiệu quả của các quy định này trong việc đảm bảo sự vận hành ổn định và minh bạch của thị trường chứng khoán tại Việt Nam.

III. Định hướng và giải pháp hoàn thiện khung pháp luật thị trường chứng khoán tại Việt Nam

Chương này đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp luật thị trường chứng khoán tại Việt Nam. Luận án nhấn mạnh sự cần thiết của việc tiếp tục cải cách và hoàn thiện khung pháp luật để đáp ứng yêu cầu phát triển của thị trường chứng khoán trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Các giải pháp được đề xuất bao gồm việc hoàn thiện các quy định pháp luật về phát hành chứng khoán, kinh doanh chứng khoán và quản lý thị trường chứng khoán, đồng thời tăng cường năng lực quản lý của các cơ quan chức năng.

3.1. Căn cứ đề ra định hướng và giải pháp

Phần này trình bày các căn cứ cho việc đề ra các định hướng và giải pháp hoàn thiện khung pháp luật thị trường chứng khoán. Luận án nhấn mạnh sự cần thiết của việc dựa trên các nguyên tắc pháp lý cơ bản và thực tiễn phát triển của thị trường chứng khoán tại Việt Nam. Đồng thời, luận án cũng xem xét kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật thị trường chứng khoán.

3.2. Giải pháp hoàn thiện khung pháp luật

Phần này đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện khung pháp luật thị trường chứng khoán tại Việt Nam. Các giải pháp bao gồm việc hoàn thiện các quy định pháp luật về phát hành chứng khoán, kinh doanh chứng khoán và quản lý thị trường chứng khoán, đồng thời tăng cường năng lực quản lý của các cơ quan chức năng. Luận án cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc tăng cường hợp tác quốc tế trong việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật thị trường chứng khoán.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ KHUNG PHÁP LUẬT THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1. KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1. Những vấn đề cơ bản về chứng khoán - hàng hoá của thị trường chứng khoán Trong đời sống kinh tế, thuật ngữ chứng khoán (stock, security) được tìm hiểu theo những yêu cầu, mục đích khác nhau. Đây là khái niệm phức tạp vì bản thân nó đã hàm chứa một loạt quan hệ kinh tế phức tạp phát sinh giữa người cần vốn và người có vốn.

Chứng khoán theo quan điểm truyền thống là phương tiện xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành. Hình thức tồn tại của chứng khoán rất đa đạng, phụ thuộc vào thực tế phát triển nền kinh tế. Chứng khoán có thể có hình thức chứng chỉ, hình thức bút toán ghi sổ dần phát triển do yêu cầu của nhà phát hành và sở hữu chứng khoán. Khi công nghệ phát triển, hình thức điện tử cũng được ghi nhận như một dang tồn tại của chứng khoán.

Một số nhà nghiên cứu kinh tế cho rằng chứng khoán là mọi sản phẩm tài chính có thể chuyển nhượng được. Với cách hiểu này, đối tượng được coi là chứng khoán thực sự đa dạng: cổ phiếu, trái phiếu, các công cụ tại thị trường tiền tệ như tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng và các loại thương phiếu. Cách hiểu này cũng có thể dẫn tới khả năng thống nhất các bộ phận của thị trường tài chính: thị trường tiền tệ, thị trường ngoại hối, thị trường chứng khoán thành một thị trường chứng khoán duy nhất. Tuy nhiên, nếu xem xét cấu trúc thị trường tài chính, việc tiếp tục tồn tại những bộ phận thị trường như hiện tại là hoàn toàn cần thiết.

Điều này xuất phát từ yêu cầu tác động, phương pháp tác động của Nhà nước đến các bộ phận thị trường là khác nhau. Đối với thị trường tiền tệ, bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng như một biện pháp hữu hiệu và trực tiếp để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia. Những liệu pháp như tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở, các giao dịch liên ngân hàng không thể áp dụng chung cho mọi đối tượng trên thị trường tài chính nói chung. Mặt khác, nhìn chung các quốc gia trên thế giới đều coi ngân hàng trung ương (Ngân hàng Nhà nước đối với Việt Nam) là cơ quan quản lý thị trường tiền tệ.

Đồng thời, những giao dịch ngoại hối nhằm ổn định giá trị đồng tiền tại thị trường ngoại tệ liên ngân hàng không thể điều chỉnh giống các giao dịch chứng khoán thông thường. Chứng khoán xác nhận quyền, lợi ích của người sở hữu, điều đó cũng có nghĩa là xác định quyền tài sản của một chủ thể nhất định xét theo phương diện pháp lý. Cho dù chứng khoán có hình thái biểu hiện cụ thể như thế nào thì đều có chung đặc trưng là xác nhận quyền chủ nợ hoặc quyền sở hữu đối với chủ thể phát hành ra nó. Để nhận diện chứng khoán với các đối tượng khác, thường phải dựa trên đặc điểm của chúng.

Đặc điểm quan trọng đầu tiên của chứng khoán là tính sinh lời. Tính sinh lời thể hiện ở việc người phát hành ra chúng phải trả cho người sở hữu chứng khoán một khoản lợi tức trong tương lai để nhận về mình quyền sử dụng vốn. Tính sinh lời của chứng khoán là động lực thúc đẩy người đầu tư mua chứng khoán, và cũng là tiền đề xuất hiện chứng khoán. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở tính sinh lời thì cơ hội đầu tư cũng như hiệu quả đầu tư chưa đạt được.

Vì vậy, gắn liền với chứng khoán là tính thanh khoản, tức khả năng chuyển đối được thành tiền. Tính thanh khoản tạo cho người sở hữu chứng khoán chuyển đổi dạng tài sản từ chứng khoán sang tiền thông qua một giao dịch tại thị trường thứ cấp hoặc thông qua nghiệp vụ ngân hàng. Tính thanh khoản tạo ra sự hấp dẫn đối với người đầu tư, thỏa mãn nhu cầu của họ đồng thời cũng hạn chế rủi ro làm giảm sút giá trị tiền tệ của chứng khoán. Có thể nói rằng, khả năng thanh khoản của mỗi chứng khoán là khác nhau, điều đó cũng có ý nghĩa trong việc xác định hiệu suất vốn đầu tư của nền kinh tế đồng thời tạo ra sức cạnh tranh cho các chủ thể phát hành.

Tính thanh khoản của một loại chứng khoán phụ thuộc vào uy tín của chủ thể phát hành, vào chi phí chuyển đổi và sự biến động của thị trường. Cuối cùng, nói tới chứng khoán, đồng thời cũng phải nói tới tính rủi ro của chứng khoán, thể hiện ngay ở bản chất của hoạt động đầu tư vốn. Cũng như bất kỳ hoạt động đầu tư, kinh doanh nào khác, việc kinh doanh chứng khoán là "đầu tư một lượng tiền trong hiện tại và chỉ có thể thu hồi trong tương lai" thì cả quãng thời gian đó cũng chính là thời gian chứa đựng rủi ro. Mức độ rủi ro tiềm tàng đến đâu còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, như thời gian đầu tư, chủ thể nhận vốn cùng các cam kết khác chính là những yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới độ rủi ro.

Mức độ rủi ro của chứng khoán có mối quan hệ chặt chẽ với tính sinh lời và tính thanh khoản của chứng khoán. Chứng khoán rất đa đạng về chủng loại và phong phú về cách thức biểu hiện. Đây cũng là một trong những lý do mà pháp luật nhiều quốc gia không đưa ra một định nghĩa cụ thể về chứng khoán. Mặc dù vậy, có thể khái quát một số loại chứng khoán tiêu biểu, hiện đang được phát hành và giao dịch phổ biến.

Chứng khoán vốn là loại chứng khoán xác nhận sự góp vốn và quyền liên quan đến phần vốn góp của chủ sở hữu chứng khoán đối với đối tượng phát hành ra nó. Chứng khoán vốn tồn tại dưới hai dang cơ bản là cổ phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư. Ngoài ra, còn có các chứng khoán phái sinh từ loại chứng khoán vốn như chứng quyền. Cổ phiếu (stock, share) là loại chứng khoán xác nhận số cổ phần mà cổ đông đó nắm giữ tại một công ty cổ phần và quyền được hưởng một phần lợi nhuận dưới hình thức cổ tức cũng như quyền tham gia quản lý công ty.

Cổ phần là phần lợi ích sở hữu của cổ đông đối với tổ chức phát hành. Cổ phần trong công ty rất đa dạng về thể loại và tính chuyển nhượng. Cổ phần phổ thông (common stock) không qui định trước về cổ tức mà cổ đông có thể được hưởng và gắn liền với kết quả kinh doanh của công ty nhưng cổ đông nắm giữ 10 lại được hưởng đầy đủ quyền và lợi ích so với các loại cổ phần khác. Cổ phần ưu đãi (preference stock) xác nhận một số ưu đãi (về tài chính, về một số quyền uu tiên khác), đồng thời cũng chịu những hạn chế nhất định về quản lý công ty.

Do nội dung ưu đãi khác nhau nên cũng hình thành nhiều loại cổ phiếu ưu đãi khác nhau như cổ phiếu ưu đãi cổ tức, cổ phiếu ưu đãi biểu quyết. Trong đời sống kinh tế, tùy mục đích của nhà phát hành, còn có thể tồn tại nhiều hình thái cổ phiếu khác, với tính chất là sản phẩm của quá trình phát triển, cải tiến nhằm mang lại khả năng lựa chon rộng rãi cho các nhà đầu tu, đồng thời cũng tạo ra cơ hội cạnh tranh cho các nhà phát hành. Chứng chỉ quỹ đầu tw là loại chứng khoán do công ty quản lý quỹ hoặc các quỹ đầu tư phát hành, xác nhận phần vốn góp và quyền hưởng lợi của người đầu tư đối với quỹ. Mỗi quốc gia có thể có mô hình quỹ đầu tư hoặc công ty quản lý quỹ đầu tư khác nhau nên quyền và lợi ích của người sở hữu chứng chỉ quỹ đầu tư đối với công ty quản lý quỹ có sự khác biệt nhất định nhưng về bản chất, chứng chi qui đầu tư đều là chứng khoán vốn.

Tùy thuộc vào bản chất trong mối quan hệ giữa công ty quản lý quỹ với quỹ đầu tư chứng khoán mà giá trị của chứng chỉ quỹ đầu tư có điểm khác nhau. Trường hợp quỹ đầu tư tồn tại độc lập, có tư cách pháp nhân thì chứng chỉ quỹ đầu tư về bản chất không khác so với cổ phiếu. Trường hợp quỹ đầu tư không tồn tại độc lập, không có tư cách pháp nhân, mặc dù đều là chứng khoán vốn; chứng chỉ quỹ đầu tư khác với cổ phiếu ở chỗ chứng chỉ quỹ đầu tư mang lại cho người đầu tư lợi nhuận không trực tiếp từ hoạt động sản xuất kinh doanh của chủ thể phát hành mà từ toàn bộ hoạt động đầu tư của quỹ. Một loại chứng khoán rất phổ biến, tạo ra sự ổn định tương đối trong giao dịch trên thị trường là trái phiếu.

Trái phiếu (bond, bill, notes) là phương tiện vay nợ, theo đó chủ thể phát hành ra nó cam kết sẽ trả lại cả gốc và lãi vào một thời gian nhất định trong tương lai. Với tính chất là một hợp đồng vay, người cấp vốn được hưởng khoản lãi cố định không phụ thuộc vào kết l1 quả sử dụng vốn của người nhận vốn; nhưng không có quyền tham gia hoạt động quản lý đối với bên nhận vốn. Do có sự khác biệt về mệnh giá, về lãi suất, về quyền đối với chủ thể phát hành mà người đầu tư có thể lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp nhất. Trên thực tế tồn tại rất nhiều loại trái phiếu khác nhau, tùy thuộc vào vị thế của người phát hành cũng như các cam kết đi kèm của nhà phát hành.

Vị thế của một loại trái phiếu có liên quan trực tiếp đến tính thanh khoản của trái phiếu và mức độ sôi động của thị trường. Trái phiếu chính phủ có độ an toàn cao, lãi suất loại trái phiếu này thường là cơ sở để các doanh nghiệp tính toán lãi suất trái phiếu dự định phát hành. Trái phiếu doanh nghiệp do doanh nghiệp phát hành nhằm tăng vốn vay để mở rộng sản xuất, đầu tư đổi mới công nghệ, có những khác biệt nhất định so với trái phiếu của các tổ chức tín dụng. Trong mỗi loại trái phiếu, tùy mục đích thu hút đầu tư mà nhà phát hành có thể lựa chọn những loại trái phiếu cụ thể khác nhau.

Chẳng hạn, trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu lãi suất thả nổi, trái phiếu thu nhập, trái phiếu trả trước thường có khả năng thu hút đầu tư nếu xét dưới góc độ cơ hội sinh lời. Trái phiếu chính phủ, trái phiếu có bảo đảm có khả năng thu hút đầu tư nếu xét theo góc độ an toàn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật thị trường chứng khoán tại Việt Nam" là một nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống pháp lý điều chỉnh thị trường chứng khoán, tập trung vào việc phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về các quy định hiện hành, chỉ ra những bất cập và gợi ý hướng cải cách để thị trường hoạt động minh bạch, hiệu quả hơn. Đây là nguồn tham khảo quý giá cho các nhà nghiên cứu, luật sư, và nhà hoạch định chính sách quan tâm đến lĩnh vực tài chính và pháp luật.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Khóa luận tốt nghiệp thao túng thị trường chứng khoán thực trạng pháp luật Việt Nam và một số kiến nghị, nghiên cứu này đi sâu vào hiện tượng thao túng thị trường và các biện pháp pháp lý để ngăn chặn. Ngoài ra, Luận án hoàn thiện pháp luật về đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại cung cấp góc nhìn về việc cải thiện pháp luật trong lĩnh vực thương mại, một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thị trường tài chính. Cuối cùng, Hoàn thiện chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về các cơ chế pháp lý đảm bảo nghĩa vụ, một khía cạnh không thể thiếu trong hoạt động thị trường.