Mở đầu, tác giả đã khăng định rằng Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển hình thức PPP và nếu có một khuôn khổ pháp lý phù hợp sẽ góp phần thúc đây hợp tác kinh doanh không những trong nội địa mà còn tạo nhiều thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp nước ngoài khi tham gia đầu tư vào Việt Nam. Tuy nhiên, thực tiễn thời gian qua cũng cho thấy, đầu tư theo hình thức PPP vẫn tồn tại những hạn chế căn bản, trở thành rào cản đối với khu vực tư nhân khi tham gia đầu tư vào cơ sở hạ tầng cũng như các lĩnh vực khác cần có sự hợp tác giữa Nhà nước và nhà đầu tư. Bài báo đã chỉ ra hai vướng mắc lớn nhất của Nghị dịnh 63/2018/NĐ- CP. Thứ nhất, về tỷ lệ phần tham gia của Nhà nước trong các dự án PPP.
Nghị định số 63/2018/NĐ-CP đã không còn đưa ra mức quy định khung về tỷ lệ phần vốn nhà nước trong dự án PPP mà tùy vào từng dự án mà cơ quan nhà nước có thâm quyền sẽ quyết định giá trị phan Nhà nước tham gia trong các dự án PPP. Tuy nhiên, néu không khống I3 chế tỷ lệ phần von mà Nhà nước tham gia trong các dự an PPP thì sẽ lại dẫn đến một số van đề như: (i) Nếu như trong các dự án PPP tỷ lệ phần vốn Nhà nước tham gia quá cao thì liệu có đảm bảo được mục đích cơ bản đặt ra khi chúng ta xây dựng và áp dụng hình thức đầu tư này hay không: (ii) Theo quy định hiện hành thì pháp luật không quy định về giá trị phần Nhà nước tham gia mà tùy vào từng dự án cơ quan nhà nước có thâm quyền xác định giá trị phần Nhà nước tham gia trong dự án PPP khi phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi. Nếu quy định như hiện nay thì rất có thé dẫn đến trường hợp cấp có thâm quyền xác định giá trị phần Nhà nước tham gia lớn hơn so với nhu cầu thực tế của dự án đề từ đó vụ lợi cho bản thân. Thứ hai về nguồn vốn Nhà nước tham gia trong các dự án PPP cũng cần xem xét lại.
Nghị định số 63/2018/NĐ-CP quy định, trên cơ sở kế hoạch đầu tư công trung hạn và kế hoạch đầu tư công hàng năm về sử dụng vốn ngân sách, vốn trái phiếu chính phủ, vốn tín dụng phát triển nhà nước, vốn hỗ trợ phát triển chính thức và các nguồn vốn khác, cơ quan nhà nước có thâm quyên có thé xác định được khả năng cân đối ngân sách nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của dự án, xác định dự án ưu tiên đầu tư cao dé bố trí vốn một cách phù hợp. Cách làm này sẽ tránh được tình trạng thiếu vốn ngân sách, tình trạng đầu tư tràn lan, không đúng mục đích, kế hoạch sử dụng von. Đặc biệt, nhà đầu tư được đảm bảo về nguồn von hỗ trợ của nha nước đúng kế hoạch, tránh được tình trạng phải kéo dài thời gian huy động vốn do ngân sách thiếu vốn. Tuy nhiên, nhà đầu tư vẫn lo ngại khi thực hiện dự án theo hình thức PPP, đó là việc bố trí vốn của Nhà nước cho giải phóng mặt bằng.
Đối với các dự án nhỏ thì điều này không đáng lo ngại, nhưng ở các dự án lớn, nó có thé sẽ lại kéo dai hàng năm do ngân sách không đủ. - Bài tạp chí, Trịnh Xuân Thắng: “Kinh nghiệm của một số nước trong triển khai các du án cung ứng dịch vụ công theo hình thức đối tác công tư và gợi ý cho Việt Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Số 10/2020 Thực tế Việt Nam cũng như thế giới đã chứng minh cung ứng dịch vụ công theo hình thức đối tác công tư (PPP) đã mang lại những lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội cho cả nhà nước, khu vực tư cũng như cộng đồng, xã hội. Tuy nhiên, hiệu quả và lợi ích mang lại trên thực tế như thé nào phụ thuộc rất lớn vào quá trình triển khai các dự án PPP. Bài viết phân tích làm rõ kinh nghiệm của một số quốc gia thực hiện khá thành công các dự án đầu tư theo hình thức này.
Cụ thé là của Vương Quốc Anh, Mỹ, Canda, 14 Hàn Quốc, Australia. Tác gia đã lựa chọn đa dạng quốc gia từ châu Au, châu A, Mỹ dé làm bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Trong đó, kiến nghị được đánh giá cao là kiến nghị số 2 “/hành lập các cơ quan đầu mối về PPP nhằm hỗ trợ thị trường PPP phát triển cạnh tranh lành mạnh với hạt nhân là các chuyên gia kỹ thuật, công nghệ và các nhà kinh tế”. Chức năng của cơ quan chuyên trách PPP ở mỗi quốc gia tuy khác nhau, nhưng nhìn chung cơ quan chuyên trách PPP thực hiện một số chức năng cơ bản như hướng dẫn các thủ tục PPP, tư vấn dự án, phê duyệt dự án PPP, tham gia thực hiện dự án, hỗ trợ tài chính và giám sát các dự án PPP.
Việt Nam nên cân nhắc tiến tới thành lập một cơ quan chuyên trách làm đầu mối quản lý nhà nước về PPP trên phạm vi cả nước với các chức năng cơ bản như nghiên cứu chính sách liên quan đến chương trình PPP, tiêu chuẩn hóa và cung cấp các tài liệu hướng dẫn cho các dự án thực hiện theo hình thức PPP, xúc tiến các dự án đầu tư theo hình thức đầu tu PPP, dao tạo nhân lực tham gia và quản lý các dự án PPP. Hiện nay, Việt Nam mới chỉ có cơ quan chuyên trách các dự án PPP của một số bộ hoặc một số địa phương. Đây là kiến nghị có giá tri tham khảo cho đến tận thời điểm hiện nay. - Bài tạp chí, Lê Hong Hạnh: “Luật Đầu tư theo phương thức đổi tác công tư - những nguyên lý cơ bản can được đảm bao”, Tạp chí Pháp luật & Phát triển, Hội Luật gia Việt Nam, 2020, Số 3+4; Số 5+6 Dau tư theo phương thức PPP được coi là một trong những giải pháp phù hợp dé thu hút nguồn lực tư nhân vào việc xây dựng các công trình công cộng, nhất là công trình giao thông.
PPP, cụ thể hơn là hình thức chủ đạo của nó là BOT đã góp phần tạo ra điện mạo mới cho hạ tang giao thông ở Việt Nam, hiện đại hóa đáng ké nền tang phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, BOT cũng gây ra nhiều hệ lụy mang tính chất phản phát triển. Đó là những thất thoát lớn của ngân sách nhà nước, một số đường cao tốc chưa đưa vào sử dụng đã hỏng, tình trạng thu phí cao dé trục lợi bat chấp tác động của việc thu phí đến lợi ích của người sử dụng dịch vụ không thể không tham gia này. Trong những nguyên nhân cốt lõi của những tiêu cực trong BOT nói riêng và PPP nói chung là những bat cập trong nền tảng pháp lý của PPP.
Bài viết này đưa ra một góc nhìn từ khía cạnh thượng tôn các cam kết trong hợp đồng PPP. Đầu tiên, định nghĩa PPP như thế nào là điều kiện tiền đề để phân tích bản chất, sự kỳ vọng và rủi ro của nó. Thứ hai, doanh nghiệp thực hiện việc đầu tư, xây dựng công trình mà không đòi hỏi bất 15 cứ cam kết đầu tư tài chính nào từ phía Nhà nước. Doanh nghiệp xây dựng công trình, sở hữu và khai thác thương mai công trình trong một giai đoạn nhất định được xác định trong hợp đồng hay trong quyết định giao dự án của chính quyền.
Như vậy, PPP là hình thức triển khai dự án bằng vốn tư nhân chứ không phải vốn ngân sách.Thứ ba, PPP được thực hiện đối với những công trình mới, trên những địa điểm mới mà Nhà nước muốn cung cấp dich vụ công dé đảm bảo chính sách phát triển kinh tế xã hội của mình. Thứ tư, các dự án PPP là các dự án đầu tư tài chính dé xây dựng các công trình mới. Chính vì vậy, đối với những nha đầu tư tư nhân cần phải huy động vốn vay dé thực hiện dự án thì rủi ro tài chính là khá cao. Thứ năm, trong các dự án PPP, chính quyên thường là người khởi xướng, nhất là ở những thời điểm mà chiến lược phát triển kinh tế xã hội hướng đến việc mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ công, đặc biệt là dịch vụ giao thông, điện, nước.
Cuối cùng, tác giả kết luận rằng muốn thúc day PPP, hoàn thiện thé chế, đặc biệt chính sách, pháp luật và việc thực thi có tầm quan trọng đặc biệt. Đối với Việt Nam, do sự thống lĩnh gan như hoàn toàn của kinh tế nha nước nhiều thập kỷ, sự tham gia của kinh tế tư nhân vào hoạt động cung cấp dịch vụ công vô cùng hạn chế. Vì thế, pháp luật về PPP đương nhiên là chưa có. Văn bản đầu tiên về PPP xuất hiện từ năm 1993 ở dạng văn bản dưới luật.
Nội dung của nó chưa thé hiện được những nguyên lý cơ bản nhất của PPP. Việc hoàn thiện thể chế về PPP đặc biệt cần thiết trong giai đoạn hiện nay khi Việt Nam ngày càng hướng tới các giá trị phát triển chung của nhân loại, trong đó có việc thu hút sự tham gia của tư nhân vào việc thực hiện các dịch vụ công đáp ứng nhu cầu của xã hội. Tình hình nghiên cứu nước ngoài - E. Yescombe (Author), Public-Private Partnerships: Principles of Policy and Finance Ist Edition, Kindle Edition (Sách: Quan hệ doi tác công tư: Nguyên tac chính sách và tài chính, ấn ban dau tiên) Cuốn sách này dựa trên kinh nghiệm thực tế của tác giả về các khía cạnh của khu vực công và khu vực tư nhân, xem xét các vấn đề chính sách chính nảy sinh đối với khu vực công trong việc có nên áp dụng lộ trình mua sắm PPP hay không và việc áp dụng cụ thể chính sách này trong cách tiếp cận hợp đồng PPP, so sánh các thông lệ quốc tế về khía cạnh này.
Nó cung cấp một cách tiếp cận tổng hợp và có hệ thống dé tài trợ cho các hình thức PPP trong khuôn khổ chính sách công, đồng thời giải thích các kỹ thuật 16 tài chính dự án được sử dụng cho mục đích này. Tuy nhiên, tác giả chỉ tập trung vào các khái niệm, van đề về kỹ thuật thực tẾ, không thừa nhận bat ky kiến thức nào về các van đề chính sách PPP hoặc kỹ thuật tài chính. - SAUSSIER, Stéphane, de Brux, Julie (Eds.