CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÍ LUẬN VE QUYEN SUY DOAN VO TOI THEO HIEN PHAP VIET NAM 1. Khai niệm, đặc điểm, vai trò của quyền suy đoán vô tội theo Hiến pháp 1. Khái niệm quyên suy đoán vô tội Trước hết, từ góc độ pháp lý, quyền suy đoán vô tội là quyền của mỗi người khi họ bị cáo buộc phạm tội. Họ không bị xem là có tội trừ khi và cho đến khi sự vi phạm của họ đã được chứng minh một cách hợp pháp, theo thủ tục pháp lý quy định, và có bản án kết tội hợp lệ từ toà án.
Điều này đảm bảo rằng quá trình tư pháp diễn ra một cách công bằng và minh bạch, bảo vệ quyền và danh dự của người bị buộc tội. Từ phía xã hội, quyền suy đoán vô tội thể hiện một niềm tin và quan điểm hướng thiện về con người. Mọi người đều có quyền được coi là không có tội cho đến khi đủ bằng chứng chứng minh điều ngược lại. Cả xã hội, bao gồm cả cơ quan nhà nước và cá nhân, đều phải tôn trọng và bảo vệ quyền này.
Nó không chỉ đặt ra trách nhiệm đạo đức cho xã hội mà còn nâng cao tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền lợi và danh dự của mỗi cá nhân. Quyền suy đoán vô tội được coi là một trong những nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất của hệ thống tư pháp hình sự. Mặc dù mỗi quốc gia có văn hóa và truyền thông pháp lý riêng, nguyên tắc này luôn được coi trọng và tôn trọng. Tại Việt Nam, nguyên tắc này được ghi nhận trong Hiến pháp, Bộ luật Tố tụng hình sự và nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng khác.
Trên bình diện quốc tế, nguyên tắc này cũng được thừa nhận và quy định cụ thể trong Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên hợp quốc. Cuối cùng, quyền suy đoán vô tội không chỉ là một quy định pháp lý; nó còn thê hiện một cam kêt từ nhà nước đôi với môi công dân. Mọi quyêt 15 định và hành động trong quá trình tư pháp đều phải tuân theo nguyên tắc công bang và minh bạch, đảm bảo rằng mỗi người chỉ bị kết tội khi có đủ bằng chứng hợp pháp và chắc chăn. Từ các phân tích nêu trên, có thé đưa ra khái niệm: Quyên suy đoán vô tội là một quyên cơ bản trong hệ thong tu pháp hình sự, dựa trên nguyên tac quan trong rang moi cá nhân khi bị buộc tội đều phải được coi là không có tội cho đến khi họ bị chứng minh là có tội thông qua một quá trình tư pháp công bằng.
Trách nhiệm chứng minh lỗi của người bị buộc tội thuộc về người buộc tội, người bị buộc tội có quyền nhưng không có nghĩa vụ phải chứng mình là mình vô tội. Trong pháp luật, việc thiết lập và bảo vệ quyên này được hình thành dựa trên nguyên tắc công lý, đảm bảo rằng chỉ những người thực sự có tội mới bị kết án và bảo vệ quyên lợi của bị cáo. "Nguyên tắc" cung cấp nên tang cho việc xác định và bảo vệ "quyền", đồng thời giúp giải quyết xung đột và mâu thuẫn trong việc áp dụng luật pháp. Mọi quyên trong hệ thống pháp lý đều được hình thành và bảo vệ dựa trên nguyên tắc cơ bản, giúp các “quan tòa” áp dụng luật pháp một cách chính xác và công bằng.
Đặc điểm của quyền suy đoán vô tội Trong hệ thống pháp luật, quyền suy đoán vô tội được coi là một tru cột cơ bản trên bình diện phản ánh trọn vẹn tỉnh thần công lý và tôn trọng nhân quyền. Từ các vấn đề đã trình bày về quyền suy đoán vô tội, có thể xác định về cơ bản quyền này có các đặc điểm quan trọng sau: - Đặc điểm về chủ thé có quyển: Chủ thể có quyền là người bị buộc tội. Khi một cá nhân bị cáo buộc phạm tội, họ đều được hưởng quyền suy đoán vô tội cho đến khi có một phán quyết chính thức từ cơ quan tư pháp. Đây là một nguyên tắc hợp pháp, phản ánh sự tôn trọng sâu rộng đôi với quyên lợi, danh dự và phâm hạnh của từng 16 cá nhân.
Điều này không chi đảm bao rằng quyền của cá nhân không bị xâm hại mà còn chứng tỏ rằng xã hội ta luôn giữ vững tinh thần đạo đức, trong đó bản chất tốt lành của mỗi con người được nhắn mạnh và họ luôn được coi là không có tội cho đến khi có đủ băng chứng thuyết phục cho cáo buộc. Quyền này xây dựng trên cơ sở nguyên tắc pháp lý, biểu đạt sự tôn trọng và tin tưởng vào phẩm giá của con người. Đối với người bị buộc tội, quyền suy đoán vô tội đảm bảo răng họ được đối xử công bằng, bảo vệ danh tiếng và quyền lợi của cá nhân. Việc thực thi thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về giá trị nhân quyền và tầm quan trọng của việc giữ gìn sự công bằng trong mọi tình huống.
Tóm lại: về cơ bản quan điểm chủ thể có quyên là những cá nhân bị buộc tội, bao gom người bị tam giữ, bi can va bị cáo. Họ đều được xem là không có tội cho đến khi có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Đây là nguyên tắc cốt lõi, biểu hiện sự tôn trọng và tin tưởng vào phẩm giá con người, đảm bảo rằng họ được đối xử công băng và bảo vệ danh tiếng cũng như quyền lợi cá nhân. Tuy nhiên, cũng ton tại một số quan điểm khác cho rằng quyền này áp dụng cho mọi công dân bao gồm cả những người chưa bị khởi tố”; với pháp nhân thương mại là chủ thé chịu trách nhiệm hình sự đối với một số tội phạm quy định tại Bộ luật Hình sự - vấn đề liệu các pháp nhân này có được giả định là không có tội hay không van đang được tranh luận — hiện tồn tại hai quan điểm, một là chỉ cá nhân mới được hưởng quyền này, hai là pháp nhân cũng có quyên giả định là không có tội hay suy đoán vô tội.
Tác giả quan điểm pháp nhân cũng có quyên suy đoán vô tội, bởi lẽ theo Điều 83 Luật Dân sự 2015 có thể hiểu pháp nhân thương mại là tổ chức bao gồm một nhóm người thực hiện mục tiêu kinh tế của họ, hành vi vi phạm pháp luật của pháp nhân là hành vi do con người thực hiện, có thé hiểu một Š https://Isvn.vn/ban-ve-nguyen-tac-suy-doan-vo-foi-trong-to-tung-hinh-su-viet-nam1650730503.html 17 cách đơn giản là cá nhân có quyền suy đoán vô tội thì pháp nhân là 1 nhóm cá nhân cũng có quyên suy đoán vô tội. - Đặc điểm về chủ thể có nghĩa vụ Chủ thé có nghĩa vụ công nhận, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền suy đoán vô tội là Nhà nước. Cụ thể là các cơ quan, người có thâm quyền buộc tội và xét xử. Những cá nhân hay tô chức bất kỳ khác trong xã hội đều cần tiếp nhận và thực hành đúng tinh thần tôn trọng quyền suy đoán vô tội.
Khi tiễn hành buộc tội, truy cứu trách nhiệm hình sự, xét xử hoặc đánh giá một vụ án, cơ quan và người có thầm quyên phải đảm bảo rang quan điểm của mình không bị ảnh hưởng bởi các định kiến trước đó hay những tư duy theo hướng tiêu cực. Mọi quyết định phải được ra dựa trên bằng chứng, chứng cứ theo quy định pháp luật, không dựa trên đánh giá chủ quan duy ý chí cá nhân không đủ căn cứ xác định chứng cứ. Trong quá trình giải quyết vụ án, ở giai đoạn xem xét, chưa có phán quyết cuối cùng của cơ quan nhà nước có thâm quyền về tội danh, nghi can hoặc bi can, bi cáo được coi họ như một cá nhân “chưa có tội” và có quyền được bảo vệ. Bang cách nay, không chỉ quyên, lợi ích hợp pháp của người bi tình nghi, bi can, bi cáo được bảo vệ mà hoạt động của hệ thống tư pháp còn được bảo đảm một cách minh bạch, khách quan và công bằng.
Tóm lại, về cơ bản, quan điểm chính về chủ thể có nghĩa vụ là Nhà nước, các cơ quan tiễn hành tố tụng, người tiễn hành tố tụng, người buộc tỘI. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc vé các cơ quan này. Họ cần phải đảm bảo răng quan điểm của mình không bị ảnh hưởng bởi định kiến hay tư duy tiêu cực. Phải đảm bảo mọi quyết định dựa trên bằng chứng và chứng cứ hợp pháp.
Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không có nghĩa vụ phải chứng minh sự vô tội của mình. Thay vào đó, chủ thể buộc tội phải chứng minh họ 18 đã phạm tội. Mọi sự nghi ngờ phải được giải quyết theo hướng có lợi cho người bị buộc tỘI. Tuy nhiên, cũng tồn tại hai quan điểm về vấn đề này: (1) Tất cả các cơ quan, người có thâm quyền buộc tội, cũng như mọi cơ quan nhà nước, tô chức xã hội, và cá nhân đều có nghĩa vụ tôn trọng quyền suy đoán vô tdi.
Người ủng hộ quan điểm này cho răng việc tôn trọng quyền suy đoán vô tội không chỉ là một trách nhiệm của các cơ quan pháp lý, mà còn là một trách nhiệm xã hội. Có nghĩa là “quyên suy đoán” vô tội không chỉ là trách nhiệm thực thi của cơ quan có thẩm quyền trong quá trình tố tụng mà còn là của toàn bộ cá nhân, tổ chức khác trong việc “nhìn nhận” người đang bị buộc tội (tình nghĩ). Tác giả theo quan điểm này bởi lẽ tuy rằng cơ quan tư pháp là cơ quan có nghĩa vụ thực thi quyền suy đoán vô tội trong quá trình chứng minh tội phạm nhưng việc xem đây là nghĩa vụ của toàn xã hội có thể đánh giá là sự thực thi Hiến pháp trong hành pháp, nhiệm vụ của cơ quan hành pháp bao gồm việc tuyên truyền pháp luật, tất yếu khi nội dung về quyền này được tuyên truyền thì trách nhiệm tôn trọng thuộc về toàn xã hội. Đối với đối tượng ngoài cơ quan có thâm quyền chứng minh tội phạm thì các tô chức, cá nhân khác khi thực thi nghĩa vụ này có thể họ là “nhân chứng” hay có sự tôn trọng, không “định kiến” với người đang mới chỉ trong giai đoạn “bị tình nghĩ”.
(2) Chico quan, người có thâm quyền buộc tội, xét xử mới có nghĩa vụ đối với quyền suy đoán vô tội. Quan điểm trên cho rằng quyền suy đoán vô tội chủ yếu liên quan đến quá trình tổ tụng pháp lý. Theo đó, chỉ những người hoặc cơ quan có thâm quyền trong việc buộc tội và xét xử mới có trách nhiệm bảo vệ quyền này. - Đặc điêm vê phạm vi quyên 19 Trong tố tụng hình sự, nguyên tắc suy đoán vô tội đóng một vai trò trung tâm.