BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ HỘI x===(O0==—> ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG MÃ SỐ : KH 99 -06 PHÁP LUẬT HỢP DONG KINH TẾ -. THỰC TRANG VÀ HƯỚNG HOÀN THIEN 2ưk+w+«+x«+w`*«* Đơn vị thực hiện: Bộ môn Luật kinh tế Khoa pháp luật kinh tế TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI; PHÒNG ĐỌC 9 1J | PAPY/ Lã | | HA NỘI. THANG 12 - 2002 BAN CHỦ NHIÊM ĐỀ TÀI Kok He KOK CHỦ NHIEM ĐỀ TÀI: TS. Nguyễn Viết Tý - Phó khoa PLKT, Trưởng bộ môn Luật kinh tế THU KÝ ĐỀ TÀI ThS.
Nguyễn Thị Dung: Phó trưởng bộ môn Luật kinh tế NHỮNG NGƯỜI THAM GIÁ ĐỀ TÀI. Bùi Ngọc Cường Chủ nhiệm khoa PLKT TS. Nguyễn Viết Tý Phó CN khoa, Trưởng Bộ môn LKT bWn2hRm ThS. Nguyễn Thị Dung Phó trưởng Bộ môn Luật Kinh tế TS.
Phan Chí Hiếu Trường Đào tạo TP & các CD Tư pháp ThS. Nguyễn Thị Khế GVC bộ môn Luật Kinh tế 6. Nguyễn Thị Van Anh GV bộ môn Luuật Kinh tế 7. ThS Déng Ngoc Ba GV bộ môn Luật Kinh tế Hoàng Minh Chiến GV bộ môn Luat Kinh tế Lê Dinh Vinh GV bộ môn Luat Kinh té MỤC LỤC PHẦN I : BAO CÁO PHÚC TRÌNH CUA BAN CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI Trang 4 PHAN If: CÁC BAO CÁO CHUYÊN ĐỀ CỦA TẬP THỂ TÁC GIA Trang 28 Tên đề tài | Người thực hiện TI Mối quan hệ giữa hợp đồng kinh tế và TS.
Phan Chi Hiéu 29 hợp đồng dân sự Thực trạng pháp luậtvềShop đồng kinh tế TS. Nguyễn Viết Tý 48 Những quan điểm sửa đổi, bổ sung và Thể. !Nguyễn Thị Khê | 6l hoàn thiện Pháp lệnh hợp đồng kinh tế Cần xác định. TÕ p ham vi á Pp dun bà của Hoàng Minh Chiến | 7l pháp luật hợp đồng kinh tế A.
Sửa đổi, bổ. sung và hoàn thiện các quy ThS. Nguyễn Thị Van | 82 định về giao kết hợp đồng kinh tế Anh | ‘Hoan thiện chế địnhhợp. đồng kinh tế vô Ths tĐồng Ngọc Ba | 96 hiệu | Vấn dé hoàn thiện các quy định về thực GV Lê Đình Vịnh | 107 hiện hợp đồng kinh tế | pera Ree TNET > ay ° Lede Vấn déhoàn thiện chế độ trách nhiêm _Th§ Nguyễn Thị _, 124 hợp đồng kinh tế Dung | | Định hướng hoàn thiện pháp luật hợp TS Bui Ngọc Cường | 138 đồng kinh tế PHANIIL: CÁC TÀI LIEU ĐÃ SỬ DỰNG NGHIÊN CUU Trang T50 PHAN I BAO CAO PHUC TRINH VE KET QUA NGHIEN CUU CUA BAN CHU NHIEM DE TAI KKK KK KK = ĐẶT VẤN DE I.
Tính cấp thiết của đề tài Ngày 25/9/1989, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế được Hội đồng Nhà nước (nay là UBTV Quốc hội ) nước Cộng hoà XHCN Việt nam thông qua. Trong quá trình thể chế hoá đường lối đổi mới, đặc biệt là đổi mới về quản lý kinh tế được Dai hội Dang toàn quốc lần thứ VI (1986) dé ra. Pháp lệnh hợp đồng kinh tế ra đời đã đóng góp vai trò quan trọng trong việc từng bước qui định và mở rộng quyền tự do kinh đoanh, tự do hợp đồng, giải phóng mọi năng lực sản xuất. và thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
Với qui định về nguyên tắc tự nguyện kí kết hợp đồng, chủ động tìm kiếm khách hàng và thoả thuận với khách hàng về nội dung giao kết. quyền tự do hợp đồng của các chủ thể kinh doanh lần đầu tiên được luật pháp qui định. Ki luật hợp đồng gắn liền với những chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh của Nhà nước là sự phù hợp với nền kinh tế thời chiến, nay trở thành yếu tế kìm hãm các quan hệ kinh doanh, dich vụ và do đó cần thiết có sự thay d6i.Trong hệ thống pháp luật Việt nam, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế là một trong những văn bản đầu tiên tạo ra điện mạo mới cho các quan hệ kinh tế. Tuy nhiên, được ban hành khi các quan hệ kinh tế trong nền kinh te thị trường còn chưa định hình và phát triển, với 5 chương 45 điều, Pháp lệnh hợp đồng kính tế qui định những vấn dé mang tính khái quát và chịu ảnh hưởng nhất định của các quan hệ kinh tế trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung.
Cac qui định bat buộc một bên chủ thể của hợp đồng kinh tế phải là pháp nhân. hình thức của hợp đồng, trong mọi trường hợp phải bằng văn bản. đã trở nên phi lí khi gạt bỏ -rất nhiều quan hệ kính doanh khỏi phạm vi, đối tượng áp dụng Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (quan hệ hop dong giữa các doanh nghiệp tr nhân, công ti hợp danh, hộ kính doanh cá thé.) Pay Tà sự khiếm khuyet tất yếu bởi bối cảnh kinh tế khi Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế ra đời (1989) mang những đặc thù nhất định. Chủ thể tham gia vào các quan hệ kinh doanh 6 chủ yếu là các doanh nghiệp quốc doanh, doanh nghiệp tập thể.
va khong nhiều các xí nghiệp tư doanh, hộ kinh doanh cá thể. Khi Luật doanh nghiệp tư nhân, Luat Công ti được ban hành (1990) và sau này được thay thé bằng Luật Doanh nghiệp (1999), nhiều hình thức pháp lý của hoạt động đầu tư thuộc các thành phần kinh tế được qui định đa dang, tạo cơ hội tham pia vào các quan hệ kinh doanh của nhiều loại hình doanh nghiệp mà trước đó Pháp lệnh hợp đồng kinh tế đã không thể tiên liệu hết. Về kĩ thuật lap pháp, Pháp lệnh bộc lộ nhiều nhược điểm và gây khó khăn trong việc áp dụng. Định nghĩa hợp đồng kinh tế dài dòng.
mang tính liệt kê nhưng lại không rõ phạm vi chủ thể (điều 1); Điều 9 không phân biệt rõ ràng khái niệm đại diện hợp pháp và đại điện theo uy quyền: điều 8 xác định hợp đồng kinh tế vô hiệu toàn bộ khi có nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, khi một trong các bên không có đăng ký kinh doanh. khi người ký kết hợp đồng không đúng thẩm quyền là chưa đảm bảo tính chính xác. bởi các trường hợp đó có thể chỉ mang lại hậu quả hợp đồng vô hiệu một phần. Trong mốt quan hệ với các văn bản pháp luật khác, nhiều van dé mang tính lý luận và thực tiễn liên quan đến Pháp lệnh hợp đồng kinh tế cần thiết phải được tháo gỡ.
Ở thời điểm ra đời, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế được ban hành cùng thời với Pháp lệnh hợp đồng dan sự. Với sự tách biệt mục dich kinh doanh và tiêu dùng, hai pháp lệnh được áp dụng khá độc lập để điều chỉnh hai nhóm quan hệ được thiết lập giữa hai nhóm chủ thể khác nhau và có mục dich khác nhau. Cùng với su hình thành và phát triển của nhiều quan hệ kinh tế, nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng được ban hành như Bộ luật dân sự ngày 28/10/1995, Luật thương mại ngày 10/5/1997. Với chủ trương coi Bộ luật Dan sự là văn bản điều chỉnh mọi quan hệ tài san.
quan niệm về hợp đồng dân sự không còn bị hạn chế bởi mục dích tiêu dùng như qui định trước đây trong Pháp lệnh hợp đồng dân sự (xem điều 394 Bo luật dan su). Sự thay đổi này làm nảy sinh một vấn dé cần được giải quyết cả vẻ lý luận và thực tiễn, đó là: lam rõ mối quan hệ giữa hợp đồng kinh tê và hợp đồng dan sự; có thể áp dụng Bộ luật Dân sự cho các quan hệ hợp đồng kính tê hay không? Bên cạnh đó, Luật Thương mại (1997) ra đời. Với đối tượng và phạm vì áp dung là thương nhân và hành vi thương mại, Luật Thương mại qui định về các hợp đồng do thương nhín thiết lập khi thực hiện các hành vi thương mai. Về bản chất, đây là những hợp đồng trong thương mại - một loại hợp dong trong kinh đoanh mà một bộ phận lớn trong số đó được coi là hợp đồng kinh tế.
có thể chịu sự điều chỉnh của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế. Trong khi Pháp lệnh hợp đồng kinh tế tồn tại nhiều qui định lạc hậu, Luật Thương mai có nhiều qui định phù hợp hơn nhưng lại có phạm vi dp dụng hẹp và nhiều qui định chưa thật hoàn chỉnh, nhiều quan điểm hoàn thiện pháp luật hợp đồng trong kinh doanh đã tính đến giải pháp thống nhất hai văn bản pháp luật này trên cơ sở có kế thừa và phát triển. Lựa chọn phương hướng nào để hoàn thiên pháp luật hợp đồng trong kinh doanh và có giải quyết mối quan hệ với luật Thương mại trong quá trình hoàn thiện hay không - đang còn là van dé tiếp tục được nghiên cứu. Mặc đù vậy, việc tiếp tục tồn tại đồng thời cả hai văn bản: Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và Luật Thương mại là một điều bat cập trong pháp luật Việt nam nói chung và pháp luật hợp đồng nói riêng.
Những vướng mắc trên đây đã nói lên tính cấp thiết của việc nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật hợp đồng kinh tế trong giai đoạn hiện nay. Việc triển khai dé tài khoa học “ Pháp luật hợp đồng kinh tế - Thực trạng va hướng hoàn thiện “ (mã số KH 99-06 ) là sự tham gia vào quá trình ngiên cứu và hoàn thiện đó.Tình hình nghiên cứu Bắt đầu những năm 1990, cùng với sự thay đổi cơ cấu kinh tê. sự phát triển của các quan hệ đầu tư, kinh doanh, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế nhanh chóng trở nên kém phù hợp và không có khả năng điều chỉnh mot quan hệ hợp đồng trong kinh doanh. Việc nghiên cứu pháp luật về hợp đồng kinh tế, xác định cơ chế điều chỉnh phù hợp đối với các quan hệ hợp đồng trong kinh doanh đã thu hút sự quan tâm của Nhà nước và các nhà nghiên cứu luật học.
Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế (1989) từ lâu được Nhà nước đặt trong trong tinh trạng sẽ sửa đổi, bổ sung nhưng đến nay (2003) vẫn chưa tìm ra giải pháp phù hợp. Từ nhiều góc độ khác nhau. đã có không ít công trình nghiên cứu vấn đề đổi mới pháp luật hợp đồng kinh tế trong nền kinh tế thị trường. Đó là các công trình nghiên cứu, bài viết của PGS TS Lê Hồng Hạnh.
TS Dương Đăng Huệ, TS Hoàng Thế Liên.: các Luận án Thạc sĩ luật học: “Xây dựng pháp luật về hợp đồng kinh tế trong điều kiện có Bộ luật dân sự và Luật Thương mại" của tác giả Trinh Thị Sam; “Kí kết và thực hiện hợp đồng kinh tế trong nên kinh tế thị trường” của tác giả Nguyễn Thị Khế; sách chuyên khảo “Ap dụng trách nhiệm hợp đồng trong kinh doanh” NXB Chính trị quốc pia 2001 cua Thac si Nguyén Thi Dung. Tuy nhiên, cho đến nay, trong bối cảnh đã hình thành nhiều lĩnh vực pháp luật đa đạng.