Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN CỦA ĐỀ TÀI 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM 1. Danh nhân “Danh nhân” là người có danh tiếng bởi có công trạng với xã hội và được xã hội ghi nhận.
Các nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng “lịch sử xã hội loài người do con người tạo nên, mỗi con người đều có tư duy, tâm lý, cá tính, thể chất riêng. Việc học, nghiên cứu và viết lịch sử chỉ để biết những cái chung là chưa đủ, mà cần phải biết những cái riêng của con người, nhất là những nhân vật kiệt xuất, những danh nhân lịch sử” [52, tr. Cho đến nay, có khá nhiều quan niệm về danh nhân lịch sử. Theo Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, “danh nhân là người có danh tiếng” [38, tr.
Theo Đào Duy Anh “Danh nhân là người có tiếng được nhiều người biết”[4, tr. Tiếng ở đây là tiếng tốt, tiếng thơm, là tài giỏi; cũng như danh tướng là tướng giỏi [8, tr.82], “danh gia là gia đình có tiếng tốt” [24, tr. Tại Hội thảo quốc tế bàn về các phương pháp sử dụng tiểu sử danh nhân phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học ở các nước châu Á, GS.Vũ Khiêu cho rằng: “Danh nhân là những người trong lúc sinh thời đã có nhiều đóng góp cho đất nước, cho quê hương. Từ khi qua đời, họ vẫn tiếp tục sống trong lòng mọi người, được mọi người quý trọng và noi gương” [4, tr.
Trong bài “Truyền thống tôn vinh danh nhân của người Việt và vấn đề văn hóa đặt tên trong xã hội đương đại”, sau khi phân tích tục thờ cúng các anh hùng, danh nhân ở nước ta, GS.TS Bùi Quang Thanh cho rằng chưa có một khái niệm rõ ràng về danh nhân, đồng thời ông đưa ra quan niệm về danh nhân lịch sử. Theo tác giả, đây là “khái niệm chỉ các cá nhân tài năng và đức độ mà sự nghiệp hoạt động có tầm ảnh hưởng sâu rộng và quan trọng đến lịch 7 sử phát triển của một dân tộc, được cộng đồng dân tộc thừa nhận, khâm phục và tôn vinh” [8, tr. Tóm lại, danh nhân là người có danh tiếng bởi có công trạng với xã hội và được xã hội ghi nhận. Họ có thể là những nhà chính trị, nhà quân sự, nhà văn hoá, nhà khoa học.
Tư liệu Tư liệu có hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất, tư liệu là những thứ vật chất con người sử dụng trong một lĩnh vực hoạt động nhất định nào đó (nói khái quát). Nghĩa thứ hai, tư liệu là tài liệu sử dụng cho việc nghiên cứu (nói khái quát) [21, tr. Tư liệu lịch sử là những dấu tích của con người trong quá khứ, được lưu lại tới ngày nay dưới nhiều dạng thức khác nhau như: truyền miệng, hiện vật, chữ viết… Tư liệu liên quan đến quá trình dạy học chương trình Giáo dục địa phương gồm: Tư liệu thành văn (sách, bài viết), tư liệu hình ảnh (ảnh, phim tài liệu), tư liệu hiện vật (công trình kiến trúc). ⟡ Tư liệu thành văn là nguồn tài liệu giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong các nguồn tài liệu lịch sử.
Nguồn tư liệu này giúp chúng ta nghiên cứu hoàn chỉnh, cụ thể về lịch sử, phản ánh những nội dung khá hoàn thiện trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tư tưởng, tôn giáo, quân sự. Tư liệu thành văn (tư liệu viết) bao gồm: Tài liệu được viết trong sách, được lưu trữ lại hoặc được trích dẫn trong tác phẩm kinh điển; những bài đăng, bài báo trên các trang thông tin điện tử chính thống. ⟡ Tư liệu hiện vật bao gồm các di vật khảo cổ, các công trình kiến trúc nghệ thuật (đình, chùa.) là những bằng chứng khách quan, chân thực của lịch sử. Tư liệu hiện vật giúp chúng ta hình dung chân thực về quá khứ.
⟡ Tư liệu hình ảnh được các phóng viên, nhà báo, nhiếp ảnh, quay phim, các họa sĩ ghi lại hình ảnh trực tiếp của sự kiện. Đây là loại tư liệu có 8 giá trị gồm: tranh, ảnh, các di tích, di vật lịch sử. Là tư liệu lịch sử quý giúp cho học sinh trong quá trình học tập kết hợp với sách giáo khoa sẽ phát huy tính tích cực, thông minh, sáng tạo cho học tập. Đây là nhóm tư liệu rất có giá trị trong học tập và nghiên cứu.
Tư liệu hình ảnh gồm nhiều thể loại khác nhau phim truyện, phim tài liệu, phim hoạt hình (hoạt họa), phim điện ảnh,. hoặc những video về một vùng đất nào đó. Đề tài lựa chọn chương trình giáo dục lớp 1, 2, 3 nên tư liệu phim sẽ lựa chọn phim tài liệu, phim hoạt hình, những thước phim có dung lượng ngắn để phù hợp với thời lượng một tiết dạy ở Tiểu học. ‧ Phim tài liệu là những thước phim quý giá về lịch sử nhằm mục đích ghi lại hiện thực, chủ yếu cho mục đích giảng dạy, giáo dục hoặc duy trì hồ sơ lịch sử.
‧ Phim hoạt họa vốn được sử dụng với mục đích để giải trí là chính, song hiện nay nó còn được phát triển và sử dụng như những công cụ giảng dạy và học tập. Hồ sơ và hồ sơ tư liệu Theo cuốn Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên, Nxb Đà Nẵng (2003) “Hồ sơ là tài liệu tổng hợp, có liên quan với nhau về một người, một sự việc hay một vấn đề” [38, tr. Tại Khoản 10 Điều 2 Luật Lưu trữ 2011, hồ sơ được định nghĩa như sau: “Hồ sơ là một tập tài liệu có liên quan với nhau về một vấn đề, một sự việc, một đối tượng cụ thể hoặc có đặc điểm chung, hình thành trong quá trình theo dõi, giải quyết công việc thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Như vậy, có thể hiểu hồ sơ tư liệu là tập hợp hệ thống thông tin, tài liệu về một vấn đề hay một đối tượng nào đó nhằm lưu giữ hoặc phục vụ cho việc nghiên cứu những vấn đề liên quan về sau.
Hồ sơ tư liệu trong dạy học là hệ thống những tư liệu, tài liệu,… có liên quan đến hoạt động dạy và học bộ môn của thầy và trò, phù hợp với nội dung chương trình, có tính giáo dục và phát triển học sinh trong quá trình học tập. Hồ sơ tư liệu danh nhân Từ việc nêu khái niệm của các từ trên, chúng ta có khái niệm về hồ sơ tư liệu danh nhân (HSTLDN) như sau: Hồ sơ tư liệu danh nhân là một tập tài liệu chứa thông tin về các danh nhân phục vụ cho việc nghiên cứu, giáo dục,. Xây dựng HSTLDN là việc tập hợp và sắp xếp các văn bản, tài liệu hình thành trong quá trình tìm kiếm thông tin về từng danh nhân theo từng vấn đề, sự việc hoặc theo các đặc điểm khác của văn bản, đồng thời sắp xếp và biên soạn chúng theo phương pháp khoa học. Để dạy hoặc giới thiệu cho học sinh về danh nhân lịch sử, hiện nay giáo viên thường tham khảo thông tin từ các cuốn hướng dẫn sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa, sách giáo viên, từ điển nhân vật lịch sử hoặc các cuốn sách tổng hợp giới thiệu về các danh nhân.
Đây là nguồn học liệu tham khảo hữu ích. Tuy vậy, để dạy học lịch sử được hiệu quả và tốt hơn, có đầy đủ thông tin hơn theo yêu cầu của đổi mới giáo dục hiện nay, giáo viên nên xây dựng hồ sơ tư liệu về danh nhân lịch sử để phục vụ dạy học. Trong cuốn Rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử, GS.TS Nguyễn Thị Côi đã nói về tầm quan trọng của hồ sơ tư liệu trong dạy học, khẳng định việc sử dụng các loại tư liệu là một trong những biện pháp có tác dụng tích cực để nâng cao hiệu quả bài học lịch sử. Đồng thời, tác giả đã giới thiệu các loại hồ sơ tư liệu cũng như kỹ năng sưu tầm, tích lũy và thành lập hồ sơ tư liệu trong dạy học lịch sử.
HSTLDN bao gồm tất cả các nguồn tư liệu, tài liệu điện tử như: sách, báo, tranh ảnh, phim tài liệu…về thân thế, cuộc đời và sự nghiệp của một danh nhân, thể hiện trên máy tính hay các thiết bị công nghệ được xây dựng có sự hỗ trợ của CNTT có liên quan đến hoạt động dạy - học lịch sử của GV và HS. Mục đích của việc xây dựng và sử dụng HSTLDN này nhằm bổ sung nguồn tư liệu cho GV trong quá trình dạy học góp phần đổi mới phương pháp và nâng cao hiệu quả bài học. VAI TRÒ CỦA VIỆC SỬ DỤNG HỒ SƠ TƯ LIỆU DANH NHÂN LỊCH SỬ TRONG DẠY HỌC GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG 1. Đối với giáo viên Xây dựng và sử dụng HSTLDN có vai trò lớn đối với GV như sau: Thứ nhất, việc xây dựng và sử dụng HSTLDN trong dạy học sẽ góp phần giúp GV nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
Việc xây dựng và sử dụng HSTLDN trong DH không đơn thuần là việc tìm kiếm, sưu tầm nguồn tư liệu để xây dựng trong HSTLDN mà với bản kế hoạch bài học chi tiết, thông qua các bài giảng cụ thể, điều này giúp GV không ngừng học hỏi, đúc rút kinh nghiệm. Vì vậy, việc nghiên cứu tự bồi dưỡng kiến thức, khai thác và sử dụng nguồn tư liệu một cách hợp lý, khoa học điều đó giúp GV làm chủ kiến thức, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Thứ hai, việc xây dựng và sử dụng HSTLDN trong DH sẽ góp phần thiết thực và hiệu quả trong việc cải tiến, đổi mới PP dạy và học hiện nay. Trong quá trình khai thác, xây dựng và sử dụng HSTLDN trong DH, GV không chỉ nghiên cứu về nội dung làm giàu kiến thức cho mình mà những kiến thức từ trong nguồn tư liệu đó nó vô cùng phong phú, không đơn thuần là những bài viết tham khảo mà còn có cả hệ thống các kênh hình, những đoạn phim tư liệu, tài liệu bồi dưỡng GV qua những lần tập huấn, những sáng kiến kinh nghiệm của bạn bè đồng nghiệp.
Đặc biệt nó chứa đựng cả những nguồn tài liệu gốc quý giá, khi GV sử dụng trong quá trình dạy học, với hệ thống nguồn tư liệu khoa học áp dụng vào từng nội dung đơn vị kiến thức cụ thể, điều này không chỉ chống lại lối “dạy chay”, “học chay” mà giúp cải tiến đổi mới phương pháp một cách thiết thực và hiệu quả. Thứ ba, việc xây dựng và sử dụng HSTLDN trong DH giúp GV học tập và bồi dưỡng thêm kiến thức liên môn, rèn kĩ năng trong việc ứng dụng CNTT.