CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN DẠY HỌC TRẢI NGHIỆM THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI 2018 CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới ➢ Học tập trải nghiệm Đầu tiên phải kể đến Lý thuyết hoạt động nghiên cứu về bản chất quá trình hình thành con người. Luận điểm cơ bản của Lý thuyết Hoạt động đã trở thành nguyên tắc nghiên cứu bản chất và quá trình hình thành con người, đó là “Tâm lí hình thành thông qua hành động”.
Điều này có nghĩa là chỉ thông qua hành động thì bản chất, nhân cách con người đó mới được hình thành và phát triển. Hoạt động là phương thức tồn tại của con người. Không có hoạt động, không có con người, do đó cũng không có xã hội loài người. Nguyên tắc “Tâm lí hình thành thông qua hành động” có ý nghĩa chỉ đạo, tổ chức các hoạt động giáo dục trong nhà trường, rèn luyện, lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo… Con người có tự lực hoạt động mới biến kiến thức, kinh nghiệm mà xã hội tích lũy được thành tri thức của bản thân.
Cùng với Lý thuyết hoạt động, Lý thuyết tương tác xã hội đã chỉ ra rằng môi trường xã hội – lịch sử không chỉ là đối tượng, điều kiện, phương tiện mà còn là môi trường hình thành tâm lí mỗi cá nhân. Con người tương tác với những người xung quanh, với môi trường xã hội giúp hình thành tâm lí con người. Vận dụng nguyên lí trên trong giáo dục, Lev Vygotsky – nhà tâm lí học hoạt động đã chỉ ra rằng “Trong giáo dục, trong lớp học, cần coi trọng sự khám phá có trợ giúp hơn là sự tự khám phá”. Ông cho rằng sự khuyến khích bằng ngôn ngữ của GV và sự công tác của các bạn cùng tuổi trong học tập là vô cùng quan trọng.
Điều này cho thấy để hình thành tri thức, kĩ năng, kĩ xảo có hiệu quả cao, không chỉ coi trọng 7 sự chỉ dẫn, hướng dẫn của GV mà phải coi trọng sự hợp tác và làm việc cùng nhau giữa những người học. (Đặng Thành Hưng, 2012) Lý thuyết Kiến tạo cũng quan niệm rằng hoạt động dạy là hoạt động của GV nhằm tổ chức và hướng dẫn hoạt động học của người học. Người học là chủ thể tích cực của hoạt động học. Hoạt động học không được hiểu là hoạt động nhận thức cá nhân thuần túy mà là hoạt động nhận thức trong sự tương tác, giao lưu với các cá nhân khác, chịu ảnh hưởng của môi trường bên ngoài.
Năm 1946, Zadek Kurt Lewin (1890 - 1947), người sáng lập của tâm lý học xã hội Mỹ, cho ta thấy việc học tập đạt hiệu quả tối đa khi có một sự xung đột căng thẳng biện chứng giữa kinh nghiệm cá nhân với việc phân tích giải quyết nhiệm vụ học tập. Trong công trình nghiên cứu của mình, Kurt Lewin đã đưa ra mô hình học tập dựa vào trải nghiệm. Knapp, 2011) Chú thích mô hình: 1. Reflect - Suy nghĩ về tình huống 2.
Plan - Lập kế hoạch giải quyết tình huống 3. Act - Tiến hành kế hoạch 4. Observe - Quan sát các kết quả đạt được Mô hình 1.1: Mô hình học tập dựa vào trải nghiệm của Kurt Lewin Trên cơ sở những nghiên cứu của Dewey về kinh nghiệm và học tập dựa vào kinh nghiệm, David Kolb (sinh năm 1939), nhà lý luận giáo dục Hoa Kỳ, đã nghiên cứu và cho xuất bản một công trình về học tập dựa vào trải nghiệm: Trải nghiệm học tập: Kinh nghiệm là nguồn học tập và phát triển (Study experience: Experience is the source of Learning and Development). Học tập là một quá trình mà ở đó tri thức được tạo ra thông qua sự biến đổi kinh nghiệm.
Học tập thông qua trải nghiệm là một cách học thông qua làm, với quan niệm việc học là quá trình tạo ra tri thức mới trên cơ sở trải nghiệm thực tế, dựa trên 8 những đánh giá, phân tích trên những kinh nghiệm, kiến thức sẵn có. Kolb, 2011) Kinh nghiệm cụ thể Thử Quan sát, nghiệm đối chiếu trong tình và phản huống mới hồi Hình thành khái niệm trừu tượng Mô hình 1.2: Mô hình học tập dựa vào trải nghiệm của Kolb Chu trình này yêu cầu người học có một kỉ luật trong việc học thông qua việc lên kế hoạch, hành động, phản tỉnh và liên hệ ngược trở lại các lý thuyết. Ngoài ra còn có thể kể đến rất nhiều các nhà giáo dục hiện đại như Willingham, Conrad và Hedin, Druism, Owens và Owens, Karen Waren… Đối với các nước có nền giáo dục phát triển, đặc biệt là các nước tiếp cận chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực, HĐTN được quan tâm và triển khai dưới nhiều góc độ. Trong khu vực Châu Á, từ năm 1973, học tập trải nghiệm đã được Hong Kong áp dụng qua việc dạy học thông qua tham quan, dã ngoại…Tư tưởng này tiếp tục phát triển ở các nước Châu Á khác như Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc… ➢ Dạy học trải nghiệm Hơn 2000 năm trước, Khổng Tử (551 – 479 TCN) đã nói “Những gì tôi nghe, tôi sẽ quên.
Những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ. Những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu”. Còn nhà triết học Hy Lạp Xocrat (470 – 399 TCN) cũng nêu quan điểm “Người ta phải học bằng cách làm một việc gì đó. Với những điều bạn nghĩ là mình biết, bạn sẽ cảm thấy không chắc chắn cho đến khi bạn làm nó”.
Chính những tư tưởng này đã đặt nền móng cho việc “dạy học trải nghiệm” sau này. 9 Richard Ponzio và Sally Stanley cho rằng: “Giáo dục trải nghiệm không đơn thuần là phải thực hiện một hoạt động, từ đó rút ra những kết luận và vận dụng vào các tình huống khác nhau. Mà thông qua việc kết hợp nhiều cảm giác trong quá trình chia sẻ kinh nghiệm, tất cả người học đều được mở rộng hiểu biết của mình” (Geoffrey Petty, 1998 - Bản dịch 2003) Từ cuối thế kỉ XIX, xuất hiện mô hình DHTN đầu tiên trên thế giới là mô hình nghiên cứu ứng dụng và đào tạo thực nghiệm của nhà tâm lí học Kurt Lewin. Lewin nhấn mạnh sự kết hợp chặt chẽ giữa lí thuyết và thực hành.
Ông nhấn mạnh, việc học có thể đạt hiệu quả tối đa khi có mối quan hệ chặt chẽ giữa kinh nghiệm cá nhân và việc phân tích giải quyết nhiệm vụ học tập. (Dương Giáng Thiên Hương, 2017) Nhắc đến DHTN, phải nhắc đến quan điểm “học qua làm, học bắt đầu từ làm” của John Dewey. Nhà triết học, tâm lí học, nhà cải cách giáo dục người Mỹ John Dewey (1859 - 1952) cho rằng nhà trường chính là môi trường sống, là đời sống cộng đồng, cho nên không được tháo rời giữa nhà trường và xã hội. Đặc biệt, trong giáo dục, trẻ con phải là người tham gia.
Để thực hiện được điều đó, những nhà giáo dục cần thiết kế các chương trình và tổ chức quá trình giáo dục chú trọng sự tiếp cận đời sống thực tế, rèn luyện hệ thống kĩ năng, không quá thiên về giáo dục lý thuyết. Giáo dục như vậy sẽ mang đầy đủ ý nghĩa về đời sống hằng ngày. Nhà trường và GV phải tạo ra một môi trường học tập và vui chơi mà trong đó người học tự tìm tòi và xây dựng kiến thức thông qua “kinh nghiệm” và “tư duy”, thông qua “trải nghiệm” của chính bản thân. (John Dewey, 2012) Thật không sai khi nói John Dewey chính là người đặt nến móng cho DHTN.
Thuyết trải nghiệm của ông dựa trên hai nguyên lý chủ đạo là sự liên tục và tác động ảnh hưởng lẫn nhau. Thuyết DHTN của John Dewey sau này được các nhà giáo dục học, các nhà nghiên cứu lấy làm tiền đề, làm điểm tựa, coi như gốc rễ quan trọng khi nghiên cứu về giáo dục trải nghiệm. Vào những năm đầu của thế kỉ XX, DHTN được hình thành và phát triển. Tại Mĩ, năm 1902, câu lạc bộ trồng bắp đầu tiên dành cho trẻ em được thành lập, câu lạc 10 bộ có mục đích dạy các HS thực hành trồng bắp, giúp HS nắm được một số công việc cơ bản của người nông dân.
Năm 1977, với sự thành lập của Hiệp hội Giáo dục trải nghiệm, giáo dục trải nghiệm chính thức đượ thừa nhận và được tuyên bố rộng rãi. DHTN sáng tạo có một bước tiến quan trọng hơn khi vào năm 2002, chương trình dạy học “Vì một tương lai bền vững” đã được Unessco thông qua. Trong chương trình này có phần học quan trọng về học qua trải nghiệm sáng tạo. Trong những năm gần đây, DHTN ngày càng được phát triển rộng khắp trong các trường học trên thế giới và là một giải pháp hữu hiệu mang lại nhiều hiệu quả tích cực trong việc hình thành và phát triển năng lực người học, trong đó có trường học của Việt Nam.
Tại Việt Nam ➢ Học tập trải nghiệm Ở Việt Nam, từ thời kì đầu của nền giáo dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”. Mặc dù cũng đã được vận dụng trong nhiều loại hình trường, song lí thuyết về HĐTN sáng tạo vẫn còn vô cùng mới mẻ. Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể ra đời, trong đó xuất hiện khái niệm mới “HĐTN sáng tạo”. Trong dự thảo nêu rõ, theo định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông sau 2015 thì các môn học, chuyên đề học tập và HĐTN sáng tạo được cấu trúc thành một hệ thống chỉnh thể, thống nhất từ cấp tiểu học đến cấp trung học phổ thông.
HĐTN sáng tạo dành cho tất cả các HS từ lớp 1 đến lớp 12 giúp HS vận dụng những tri thức, kiến thức, kĩ năng, thái độ đã học từ nhà trường và những kinh nghiệm bản thân vào thực tiễn cuộc sống một cách sáng tạo. Đã xuất hiện một số công trình nghiên cứu, các tác giả luận văn, luận án cũng đưa ra những kết quả nghiên cứu về HĐTN sáng tạo theo hướng tổng hợp lý thuyết, vận dụng HĐTN sáng tạo trong dạy học. Có thể kể đến các 11 tác giả như Nguyễn Thị Chi, Nguyễn Thị Liên, Tưởng Duy Hải, Đinh Thị Kim Thoa… (Dương Giáng Thiên Hương, 2017) Nhóm tác giả Nguyễn Thị Kim Dung và Nguyễn Thị Hằng trong bài viết “Một số phương pháp tổ chức HĐTN cho HS phổ thông” đã đi sâu phân tích 4 phương pháp tổ chức HĐTN: Phương pháp giải quyết vấn đề, Phương pháp sắm vai, Phương pháp thảo luận nhóm, Phương pháp trò chơi. Trong mỗi phương pháp các tác giả đã chỉ rõ ý nghĩa và các bước tiến hành áp dụng HĐTN vào thực tiễn dạy học.
(Nguyễn Thị Kim Dung - Nguyễn Thị Hằng, 2015) Hiện nay, theo CTGDPT mới 2018, HĐTN sáng tạo được đổi tên thành HĐTN.