Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP HUYỆN 1. Một số vấn đề lý luận về cấp huyện 1. Khái niệm về cấp huyện Huyện là thuật ngữ để chỉ một đơn vị hành chính bậc hai của một quốc gia (đơn vị bậc một là tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương). Huyện được chia thành các xã, bản và ít nhất là một thị trấn nơi chính quyền huyện đặt cơ quan hành chính.
Cấp huyện là một thuật ngữ khác được dùng để chỉ các đơn vị hành chính tương đương với huyện gồm có huyện, quận, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh. Gần như trong tiếng Việt, "huyện" được dùng để chỉ đơn vị hành chính ở Việt Nam, Trung Quốc và có thể các quốc gia láng giềng như Lào, Campuchia trong khi "quận" được dùng khá rộng rãi hơn để chỉ các đơn vị hành chính tương đương ở các quốc gia khác như Hoa Kỳ, Pháp. Hiện nay, tại nước CHDCND Lào thì các đơn vị hành chính được phân chia một cách chính thức thành 3 cấp là cấp tỉnh, cấp huyện và cấp bản. Các đơn vị hành chính cấp dưới: Một huyện thông thường được chia ra thành nhiều cụm bản và nhiều bản, làng khác nhau Các đơn vị hành chính cấp huyện còn lại được tính điểm để phân loại theo các tiêu chí: Dân số Diện tích tự nhiên Các yếu tố đặc thù 1.
Vai trò của cấp huyện Theo Hiến pháp nước CHDCND Lào thì nền hành chính của nước Lào được phân làm 4 cấp khác nhau đó là: cấp cơ sở (bản, làng), cấp trên cơ 6 sở là cấp quận, huyện, cấp tiếp theo là cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (huyện và tỉnh - thành phố gọi là cấp địa phương) và cuối cùng là cấp Trung ương. Như vậy, huyện là cầu nối giữa cấp tỉnh, trung ương với cơ sở, và các cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn cấp huyện là cấp có nhiệm vụ lãnh đạo toàn diện và trực tiếp các mặt đời sống của cơ sở, đồng thời cấp huyện vừa là cấp quán triệt đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước có được thực hiện tốt hay không là do cơ sở quyết định, nhưng trong đó sự truyền tải, đôn đốc, kiểm tra, uốn nắn, giúp đỡ của cấp huyện là rất quan trọng. Mặt khác cấp cơ sở thông qua cấp huyện phản ánh lên cấp tỉnh và trung ương những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn cần phải giải quyết hoặc những vấn đề không còn phù hợp để cấp trên nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước kịp thời nhằm đáp ứng đòi hỏi khách quan của thực tiễn diễn ra ở cơ sở.
Sự giúp đỡ của cấp huyện là rất quan trọng, bởi vì cấp huyện là cấp trên trực tiếp của cơ sở sâu sát cấp cơ sở nhất. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy sự phát triển các mặt của tỉnh đều gắn chặt với huyện. Công cuộc đổi mới diễn ra ở khắp địa bàn, nó thật sự đi vào cuộc sống thì trong đó có một phần vai trò của cấp huyện. Hội nghị TW 6 (Khoá VI) có bàn về cấp huyện là: Huyện là đơn vị làm kế hoạch và ngân sách.
Thủ tướng Chính phủ nước CHDCND Lào ra lệnh hướng dẫn tổ chức thực hiện số 01/CP ngày13/3/2000 với nội dung: “Xây dựng tỉnh trở thành đơn vị chiến lược, huyện trở thành đơn vị kế hoạch, ngân sách và xây dựng bản, làng là đơn vị cơ sở tổ chức thực hiện” [6, tr.18] 7 Vai trò của cấp huyện còn nhiều vấn đề cần phải luận giải thêm, nhất là hiện nay khi chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp sang phát triển sản xuất hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước và định hướng XHCN. Huyện có vị trí quan trọng nhiều mặt trong nền kinh tế quốc dân, nơi trực tiếp lãnh đạo các tổ chức cơ sơ Đảng và trực tiếp kiểm tra đôn đốc các hoạt động của Đảng bộ ở cơ sở, xí nghiệp, nhà máy, trường học, bệnh viện và cấp thôn, bản, làng. Hiện nay, yêu cầu nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội đang quy định vị trí, vai trò của cấp huyện. Mặt khác có nguyên nhân của lịch sử, nhất là nền sản xuất nhỏ, trình độ kinh tế, văn hoá, xã hội có sự chênh lệch đáng kể, việc đưa miền núi tiến kịp miền xuôi chẳng phải giản đơn trong việc thực hiện cơ chế hiện nay.
Đặc biệt đối với bộ phận dân cư đang trong quá trình sản xuất tự cung tự cấp, trình độ dân trí còn thấp, mặc dù có tiềm năng có thể khai thác được, song để khai thác những tiềm năng đó thì cơ sở lại chưa đủ khả năng trong nền kinh tế nhiều thành phần, cơ cấu giai cấp cũng phức tạp và đa dạng phong phú, song trên địa bàn cơ sở, cơ cấu xã hội, giai cấp sẽ không biểu hiện đông đủ. Vì thế, sẽ khó mà sử dụng đúng mức và có hiệu quả đối với thành phần kinh tế. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu cách mạng hiện nay thì huyện phải có nhiệm vụ điều tiết và quản lý các quá trình xã hội. Với vị trí đó phương hướng xây dựng huyện hiện nay không phải là xây dựng kế hoạch và dự toán ngân sách mà còn phải là xây dựng cho được đội ngũ cán bộ chủ chốt của huyện có khả năng, có năng lực, có đạo đức phẩm chất cách mạng và đồng thời huyện phải phát triển, củng cố, sắp xếp, xác định cho đúng chức năng nhiệm vụ của huyện trong hệ thống chính trị hiện nay để khai thác sử dụng tiềm năng ở mỗi địa bàn khác nhau nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước do Đảng NDCM Lào lãnh đạo.
Một số vấn đề lý luận về đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện 1. Quan niệm về cán bộ Cán bộ là một danh từ được dùng rộng rãi trong hoạt động tổ chức và lãnh đạo của các đảng cộng sản cũng như trong các mối quan hệ xã hội hàng ngày ở các nước xã hội chủ nghĩa, kể cả ở nước CHDCND Lào hiện nay. Cán bộ là một khái niệm có nội hàm rộng, với nhiều cách tiếp cận theo phạm vi, theo đối tượng nghiên cứu và hiện nay quan niệm về cán bộ vẫn còn hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Khái niệm cán bộ xuất hiện từ khá sớm, có học giả cho rằng thuật ngữ “cán bộ” được du nhập từ Trung Quốc và đã xuất hiện trong các cuốn từ điển của Việt Nam, như Từ điển Bách khoa toàn thư, Đại từ điển Tiếng Việt,v.
Tuy nhiên, cách hiểu rộng rãi nhất, thông dụng nhất thì thuật ngữ “Cán bộ” là chỉ những người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ làm việc trong các tổ chức, cơ quan của Đảng, Nhà nước, đoàn thể quần chúng và lực lượng vũ trang; những người giữ chức vụ trong các tổ chức, cơ quan đó. Theo từ điển Việt - Nhật, danh từ “cán bộ” được dùng với nghĩa là người ở hạng cao (trong một đoàn thể), là yếu nhân (nhân vật quan trọng). Theo từ điển tiếng Việt, “cán bộ” được định nghĩa là : “Người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước, đảng và đoàn thể. Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ”.
Cho đến nay, từ cán bộ, tùy theo từng tổ chức (Đảng, đoàn thể, hệ thống Nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang,v.) đã được dùng với rất nhiều nghĩa khác nhau [25, tr. Theo nghĩa thứ nhất: Cán bộ được xem như là người làm hành chính, công tác trong cơ quan Nhà nước, bao gồm cả những người có chức vụ hành chính cao nhất đến những người không có chức vụ hành chính nào, tất cả đều nằm trong bộ máy, có nghĩa vụ, trách nhiệm trong bộ máy Nhà nước và được 9 hưởng lương từ ngân sách Nhà nước theo ngạch lương nhất định do Nhà nước quy định. Trong trường hợp này cán bộ đồng nhất với công chức. Theo nghĩa thứ hai: Cán bộ được coi như là người có chức vụ và trách nhiệm cao hơn trong bộ máy tổ chức.
Điều này phản ánh nghĩa gốc từ cán bộ, bởi vì chính những người có chức vụ trách nhiệm cao mới có vai trò là “nòng cốt”, là “người chỉ huy” và đây chính là một góc độ trong cách hiểu thông thường về khái niệm cán bộ. Trên thực tế cán bộ không chỉ là công chức Nhà nước mà là toàn bộ những người làm việc trong hệ thống chính trị. Có nhiều cách hiểu quan niệm khác nhau về cán bộ nhưng về cơ bản cán bộ chính là bộ khung, là nòng cốt, là chỉ huy của một tổ chức, một tập thể, tức là cán bộ là người đứng đầu, người chỉ huy, có vai trò chỉ đạo hướng dẫn các thành viên trong một tổ chức hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Cán bộ cũng chính là người phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động, mọi sự chỉ đạo đối với tổ chức cấp trên.
Theo Luật cán bộ, công chức năm 2008 của Việt Nam thì “cán bộ” được định nghĩa như sau: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm và giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (Sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [18, tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người rất quan tâm đến vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ trong sự nghiệp cách mạng, và Người đã đưa ra khái niệm cán bộ ngay từ những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.Trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc”, Người đã viết: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. 10 Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” [16, tr.269] Ở nước CHDCND Lào, trước đây thuật ngữ “cán bộ” được hiểu là tất cả những người làm việc trong biên chế Nhà nước đều là cán bộ. Khi có quan niệm công chức Nhà nước, những năm gần đây, trong các văn bản của Đảng, Nhà nước xuất hiện thuật ngữ “cán bộ, công chức” để phân biệt chức năng, nhiệm vụ và vị trí công tác của từng loại.