CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG VÀ KHÁI QUÁT HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG 1.1 Cơ sở khoa học công tác quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững tại huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm đói nghèo và giảm nghèo Khái niệm đói nghèo: Một chuyên gia của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) ông Abapia Sen – người được giải thưởng Nobel năm 1998 cho rằng: Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lụa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. [ 2 ] Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Kốc, Thái Lan (tháng 9 năm 1993) đã đưa ra định nghĩa chung về đói nghèo như sau: “ Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các như cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương ” [ 7 tr.12 ] Liên Hiệp Quốc (UNDP) đề cập quan niệm nghèo đói như sau: “đói nghèo con người đề cập đến sự phủ nhận các cơ hội và sự lựa chọn để đảm bảo một cuộc sống cơ bản nhất hoặc có thể chấp nhận được” [ 7 tr.12 ] Từ những quan niệm trên ta có thể hiểu: Đói nghèo là một vấn đề KT-XH mang tính toàn cầu. Đói nghèo không chỉ là vấn đề xã hội ở các quốc gia lạc hậu, kém phát triển mà ngay cả những nước phát triển cũng tồn tại một bộ phận dân cư bị đánh giá là nghèo. Nghèo có thể hiểu là tình trạng túng thiếu vật chất, không đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân.
Bản chất của đói nghèo chính là sự thiếu hụt. Theo quan niệm của Viện Ngân hàng TG, nghèo đói là sự thiếu hụt so với mức sống nhất định mà sự thiếu hụt này được xác định theo các chuẩn mực xã hội gồm các vấn đề liên quan đến dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục. Ở Việt Nam, đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có đủ điều kiện để đáp ứng nhu cầu tối thiểu của đời sống xã hội, có mức thu nhập thấp hơn so với trung bình xã hội. Tieu luan Từ những quan niệm trên, đói nghèo có thể được hiểu là một phạm trù chỉ mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cư là thấp, không đảm bảo những nhu cầu tối thiểu của con người mà những nhu cầu này theo một tiêu chuẩn đã được xã hội thừa nhận.
Khái niệm giảm nghèo: Bộ trưởng Đào Ngọc Dung – Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương Binh và Xã hội đã từng nói về giảm nghèo như sau: “ Quá trình xóa đói giảm nghèo có thể ví như người leo lên đỉnh Fanxipan mà không dùng cáp treo. Đoạn đầu dốc còn thoai thoải, người leo đang hứng khởi, tràn trề sinh lực, nhưng chặng còn lại mới là gian khổ, dốc đứng, sức người có hạn, do đó phải rất quyết tâm mới lên tới đỉnh.Nguyễn Hữu Tiến có nêu quan niệm về giảm nghèo trong sách “ Nghèo đói và các giải pháp giảm nghèo bền bững ”: “ Công tác xóa đói giảm nghèo là quá trình đưa ra các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, đặc biệt là hộ nghèo, xã nghèo trên cả nước ” [ 7 tr.128 ] Trên cơ sở khái niệm nghèo, khái niệm giảm nghèo nêu ở trên trên,ta có thể hiểu giảm nghèo là giảm tình trạng dân cư chỉ có thể thỏa mãn một phần nhu cầu cơ bản của cuộc sống. Ở cấp độ cộng đồng, giảm nghèo được hiểu là giảm số lượng hay tỉ lệ người không thỏa mãn nhu cầu cơ bản. Ở cấp độ gia đình, giảm nghèo được hiểu là nâng cao mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của hộ gia đình, hay còn gọi là thu hẹp khoảng cách nghèo.
Tất cả đều hướng đến mục đích là tạo điều kiện để những người thuộc diện nghèo tăng thêm thu nhập, nâng cao chất lượng đời sống và vươn lên thoát nghèo.2 Khái niệm giảm ngèo bền vững Trang Thông tin quốc gia về giảm nghèo bền vững có viết: GNBV là một trọng tâm của Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao cải thiện đời sống của người nghèo, nhất là những khu vực miền núi, dân tộc thiểu số, tạo sự phát triển bền vững, thu hẹp khoảng cách giữa các dân tộc, khoảng cách miền núi thành thị, hạn chế sự phân hóa giàu nghèo. Qua đó có thể hiểu rằng GNBV là quá trình thực hiện cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người nghèo hướng tới nâng cao năng lực tự thoát nghèo và không rơi trở lại trạng thái nghèo của người dân, duy trì thành quả giảm nghèo một cách lâu dài, bền vững.3 Khái niệm quản lý, quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững Khái niệm quản lý: Là việc quản trị của một tổ chức, doanh nghiệp, tổ chức phi lợi nhuận hoặc cơ quan chính phủ. Quản lý bao gồm các hoạt động thiết lập chiến lược của một tổ chức và điều phối các nỗ lực của nhân viên để hoàn thành các mục tiêu của mình thông qua việc áp dụng các nguồn lực sẵn có như tài chính, tự nhiên, công nghệ và nhân lực. Khái niệm quản lý nhà nước: Là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định và phát triển xã hội theo những mục tiêu mà tầng lớp cầm quyền theo đuổi.
Bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể thống nhất. Khái niệm quản lý nhà nước về giảm nghèo bền vững: QLNN về GNBV có thể hiểu là sự tác động có mục đích của nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển của xã hội thông qua chính sách, pháp luật, tổ chức bộ máy nhằm làm giảm tỷ lệ đói nghèo, từng bước cải thiện, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, hạn chế tối đa nguy cơ tái nghèo, ổn định và phát triển đất nước. Thông qua QLNN về GNBV, Nhà nước ban hành các chính sách, mục tiêu cụ thể giúp DTTS GNBV, nhằm nâng cao mức sống, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, thành thị nông thôn, giữa các vùng miền, dân tộc, tạo sự chuyển biến tích cực trong phương thức sản xuất, từng bước chuyển đổi các hoạt động nhỏ lẻ, lạc hậu sang kinh tế thị trường, hướng đến một cuộc sống tốt đẹp đủ đầy hơn.4 Khái niệm dân tộc và dân tộc thiểu số Khái niệm dân tộc: Là hình thái đặc thù của một tập đoàn người, xuất hiện trong quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội, được phân biệt bởi 3 đặc trưng cơ bản là ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác về cộng đồng, mang tính bền vững qua hàng ngàn năm lịch sử. Một số dân tộc ở trên đất nước Việt Nam như dân tộc Việt, dân tộc Tày, dân tộc Khơ Me, dân tộc Kinh… Khái niệm về dân tộc thiểu số: Ở Việt nam, dân tộc thiểu số được hiểu là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam như Mong, Gia Rai, Kho Mu, Chut, E De, Ta Oi,… Tieu luan 1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng đói nghèo ở dân tộc thiểu số 1.1 Nhân khẩu Ở một số nơi đồng bào dân tộc thiểu số, do trình độ văn hóa còn thấp dẫn đến không có những biện pháp tránh thai phù hợp hoặc đẻ con không có kế hoạch dẫn đến nhân khẩu bình quân trong gia đình dân tộc thiểu số sẽ cao hơn so với nhân khẩu bình quân của những hộ dân bình thường. Vì những điều này, trẻ em dân tộc thiểu số thường không được đi học đầy đủ dẫn đến trình độ học vấn thấp, không tiếp cận được khoa học kỹ thuật, không có khả năng tự kiếm được việc làm, sản xuất sút kém, thu nhập thấp dẫn đến nghèo đói. Những đứa trẻ được sinh ra không theo kế hoạch sẽ khiến cho mật độ dân số ngày càng tăng cao, có thể dẫn đến bùng nổ dân số kèm theo các vấn đề về kinh tế xã hội phát sinh như lạm phát, tình trạng đói nghèo gia tăng, trật tự xã hội mất ổn định,… làm cho chất lượng cuộc sống ngày càng giảm sút. Đồng thời, tình trạng này sẽ cản sự phát triển kinh tế của quốc gia, thậm chí có thể gây bất ổn về chính trị, ảnh hưởng đến những nỗ lực phát triển của quốc gia và khu vực.2 Yếu tố lao động sản xuất Ở một số nơi đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn còn tập quán canh tác lạc hậu, năng suất lao động thấp hơn, các đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều hạn chế trong vấn đề tiếp cận với các hình thức lao động sản xuất.
Do trình độ còn hạn chế nên họ chưa biết tận dụng lợi thế về đất đai mà khai thác, chưa biết áp dụng khoa học kĩ thuật, đưa cây con giống có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất để góp phần vào việc tăng năng suất, tạo ra giá trị cao trong sản phẩm hàng hóa và mang lại thu nhập cao hơn cho người lao động. Người dân tộc thiểu số thường lựa chọn phương án sản xuất tự cung, tự cấp, họ vẫn giữ các phương thức sản xuất truyền thống với giá trị kinh tế thấp, thiếu cơ hội thực hiện các phương án sản xuất mang lợi nhuận cao. Do vậy nên họ vẫn ở trong vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói. Tỷ lệ hộ nghèo dân tộc thiểu số được hỗ trợ đất sản xuất còn thấp; tiến độ giao rừng, cho thuê rừng gắn liền với giao đất lâm nghiệp và cấp giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp còn chậm; người dân chưa sống được bằng nghề rừng.
Bên cạnh đó, nhiều nơi diện tích đất canh tác hạn chế, người dân còn thiếu tư liệu sản xuất hay chưa hiểu rõ khí hậu của vùng đấy thích hợp hay không thích hợp với canh tác nông nghiệp gì, thậm chí là ngại vay vốn để chuyển đổi phương pháp, chuyển đổi mô hình sản xuất. Nhiều hộ gia đình dân tộc thiểu số còn thiếu sự chủ động trong việc thoát ra khỏi tình trạng đói nghèo, trông chờ, ỷ lại vào sự giúp đỡ cùa Nhà nước, chính phủ, chính quyền địa phương.