Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn chiến lược biên giới; kết hợp kinh tế với quốc phòng Trần Trung Tín (1998), Kết hợp kinh tế với quốc phòng ở nước ta hiện nay, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội [122]. Trong luận án tác giả đi sâu làm rõ lý luận về kết hợp kinh tế với quốc phòng; nội dung và những nhân tố tác động đến việc kết hợp kinh tế với quốc phòng; xu hướng kết hợp kinh tế với quốc phòng của các nước; thực trạng kết hợp kinh tế quốc phòng ở Việt Nam trong những năm 90 của thế kỷ XX.
Luận án đề xuất xây dựng mô hình Quân đội tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn biên giới khu vực Tây Bắc. Quốc vụ viện Trung Quốc (1999), Chiến lược Hưng biên phú dân, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa (Viện nghiên cứu Trung Quốc thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam dịch và phát hành năm 2009) [104] đã tập trung bàn về nội dung nhiệm vụ thực hiện chương trình “Hưng biên phú dân”, thúc đẩy sự phát triển của vùng biên giới, nâng cao đời sống cho người dân, củng cố vùng biên cương của Trung Quốc vững mạnh. Với tư tưởng chỉ đạo: “Nâng cao toàn diện trình độ phát triển kinh tế - xã hội vùng biên, đẩy mạnh sự phối hợp giữa khu vực biên giới với các vùng khác trong cả nước, đẩy nhanh các bước xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa ở vùng biên”. Mục tiêu của chiến lược “Hưng biên, phú dân” chính là củng cố và nâng cao mức sống cho các nhóm dân tộc sinh sống tại vùng biên, làm cho họ cảm thấy được sống trên mảnh đất này là niềm vinh dự và trách nhiệm của bản thân, cho họ cảm nhận được sự giúp đỡ về mặt tinh thần và vật chất của nhà nước đối với những người dân định cư nơi biên giới.
“Hưng biên Phú luan an 11 dân” là sách lược dài hạn của quốc gia, không thể chỉ là một dự án hay là một chương trình hành động nhất thời. Để đạt được mục tiêu “Hưng biên Phú dân” thì cần phải bảo đảm các lĩnh vực xã hội tại khu vực biên giới đều được phát triển toàn diện mà trước hết phải giải quyết được vấn đề “Phú dân”. Theo đó cần tập trung giải quyết những vấn đề cơ bản sau: Thứ nhất, làm cho dân giàu nhất thiết phải phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh và phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của người dân bản địa. Thứ hai, vấn đề làm cho dân giàu cần phải phù hợp với tiêu chuẩn “giàu” của người bản địa.
Thứ ba, trọng tâm của việc làm cho “dân giàu” chính là tạo điều kiện cho dân không phải lo nghĩ gì mà cố thủ nơi biên giới. Neil Jamieson và cộng sự (2000), Những khó khăn trong công cuộc phát triển miền núi ở Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội [93]. Công trình trên đã nghiên cứu, đánh giá một số chương trình, chính sách quan trọng của Đảng, Nhà nước ta đối với các dân tộc thiểu số; đánh giá thực trạng đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục vùng đồng bào các dân tộc, miền núi, từ đó các tác giả đã đưa ra các kiến nghị và đề xuất một số chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Thoong Vet Phum Ma Vong (2001), Mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng trong thời kỳ đổi mới ở Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội [138].
Tư tưởng chính của luận án chỉ ra việc kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng là vấn đề có tính nguyên tắc trong suốt tiến trình cách mạng ở Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào và đã đạt được những kết quả quan trọng. Vì vậy, việc giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng ở Cộng hòa dân chủ Nhân dân Lào trong thời gian tới cần có những biện pháp, cơ chế, chính sách thích hợp, có tính khả thi, huy động được mọi nguồn lực kinh tế và quốc phòng trong nước; đồng thời, mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực và thế giới. Trong các luan an 12 giải pháp, tác giả đã nhấn mạnh đến việc kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng trong đầu tư xây dựng các vùng biên giới, miền núi vùng sâu, vùng xa; đề cập đến vai trò của Quân đội Nhân dân Lào, các đoàn KTQP Lào trong thực hiện nhiệm vụ lao động sản xuất, cũng như cần thực hiện tốt chính sách đối với lực lượng quân đội tham gia phát triển kinh tế xã hội ở vùng này. Đinh Trọng Ngọc (2001), Phát triển KTXH miền núi phía Bắc và tác động của nó với tăng cường sức mạnh bảo vệ chủ quyền biên giới ở vùng này, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị, Hà Nội [96].
Tác giả đã đưa ra quan niệm, yêu cầu, nội dung phát triển KTXH ở miền núi phía Bắc; làm rõ thực trạng phát triển KTXH ở miền núi phía Bắc nước ta và những tác động của nó đến bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới. Để đẩy mạnh phát triển KTXH và củng cố sức mạnh bảo vệ chủ quyền biên giới, tác giả đã đề xuất hệ thống các quan điểm và các giải pháp thiết thực. Trong phần giải pháp, tác giả đã nhấn mạnh đến sự kết hợp giữa phát triển KTXH với tăng cường QPAN trong công tác quy hoạch, xây dựng kết cấu hạ tầng, ổn định dân cư dọc tuyến biên giới. Đồng thời, cần phải phát huy vai trò của Quân đội trong tham gia phát triển KTXH góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới của quốc gia trong thời kỳ mới.
Tác giả đã khẳng định, Quân đội là lực lượng nòng cốt tham gia xây dựng và phát triển KTXH, củng cố quốc phòng, an ninh trên các địa bàn chiến lược. Tham gia xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội là phẩm chất tốt đẹp của quân đội cách mạng, một Quân đội thống nhất giữa bản chất cách mạng và tính nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Nội dung cuốn sách góp phần định hướng chung cho cán bộ, chiến sĩ tiếp tục quán triệt, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế mà Đảng, Quân đội và Nhân dân giao phó. Phạm Tiến Luật (2004), Kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế tạo tiềm lực hậu cần trên địa bàn Quân khu 3, Luận án tiến sĩ, Học viện luan an 13 Hậu cần, Hà Nội [81].
Tác giả đã khẳng định, kết hợp kinh tế với quốc phòng là hoạt động của toàn xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước hướng tới mục tiêu xác định. Từ phân tích thực trạng kết hợp kinh tế với quốc phòng địa bàn Quân khu 3, tác giả luận giải và đề xuất 5 giải pháp cơ bản trong đó đáng chú ý là các giải pháp: phát huy vai trò của Quân đội trong tham gia phát triển kinh tế; đẩy mạnh tiến độ thực hiện và hiệu quả hoạt động của các khu kinh tế - quốc phòng; triển khai các mô hình, dự án sản xuất kinh doanh kết hợp xây dựng lực lượng dự bị động viên và dân quân tự vệ trên địa bàn. Khương Thanh (2006), “Triều đại Lê sơ lập đồn điền phát triển KTXH gắn với củng cố QPAN miền biên viễn”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 7 [111]. Trong bài viết, tác giả đã phân tích hai loại hình đồn điền dưới thời Lê sơ mà thực chất đó là phương thức kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng nhằm mục đích kinh tế, chính trị, quân sự ở vùng biên giới trong hoạt động đối nội và đối ngoại và góp phần quan trọng trong bảo vệ chủ quyền biên giới quốc gia.
Thành công của mô hình này là một trong những cơ sở thực tiễn để Đảng, Nhà nước ta tiếp tục chủ trương Xây dựng các khu KTQP, QPKT với mục tiêu tăng cường QPAN là chủ yếu trên các địa bàn chiến lược, nhất là những vấn đề thuộc về cơ chế, chính sách có tính chất đặc thù cho khu vực này. Theo tác giả, để tiếp tục phát triển các khu KTQP trong thời gian tới, cần tăng cường hỗ trợ ngân sách giúp cho các địa phương xây dựng kết cấu hạ tầng (điện, đường, trường, trạm, nước sạch) tạo điều kiện để tổ chức di dân, ổn định cuộc sống ở các khu KTQP trên vùng biên giới đất liền và trên các đảo. Mặt khác, cần có chính sách cho vay vốn dài hạn, hợp lý với lãi suất phù hợp để đầu tư vào cây trồng, vật nuôi, phát triển ngành nghề ở các khu KTQP. Ngoài ra cần có các chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với lực lượng vũ trang, thanh niên xung phong, những người xung kích đến vùng sâu, vùng xa, trực tiếp làm nòng cốt trên mặt trận kết hợp phát triển KTXH với QPAN ở các khu KTQP.
Hoàng Chí Bảo (2009), Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc trong phát kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay, sách tham khảo, Nxb luan an 14 CTQG, Hà Nội [3]. Tác giả khẳng định, thực hiện bình đẳng dân tộc là một nhu cầu rất to lớn trong tiến trình phát triển và là một nhân tố quan trọng đảm bảo cho xã hội Việt Nam ổn định và phát triển. Nội dung cuốn sách cũng đã chỉ rõ thực trạng tình hình kinh tế - xã hội và các quan hệ dân tộc; làm rõ thành tựu và khuyết điểm trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc nói chung, phát triển KTXH nói riêng; dự báo xu hướng và đề xuất các giải pháp. Tác giả nhấn mạnh, cùng với đổi mới nhận thức, xây dựng hệ thống chính trị và đào tạo nguồn nhân lực thì cần thực hiện chính sách dân tộc trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, để thực hiện công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc ở Việt Nam hiện nay.
Trần Thái Bình (2017), “Quan điểm của Đảng về kết hợp phát triển KTXH với tăng cường QPAN trên các địa bàn chiến lược”, Tạp chí Quốc phòng toàn dân, số 11 [9].