Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội đô thị, công tác giảm nghèo đa chiều và bền vững giữ vai trò hạt nhân nhằm bảo đảm an sinh xã hội cho nhóm dân cư dễ bị tổn thương. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, thực tiễn đô thị hóa nhanh chóng cùng các biến động kinh tế sau đại dịch Covid-19 đã đặt ra thách thức lớn đối với công tác quản lý an sinh tại các địa bàn cửa ngõ đông dân nhập cư. Đề án thạc sĩ ngành Quản lý công của tác giả Tằng Mành Chướng, do Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng Duyên hướng dẫn tại Học viện Hành chính Quốc gia, tập trung nghiên cứu chuyên sâu đề tài: "Nâng cao hiệu quả giảm nghèo bền vững trên địa bàn phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh".

Vấn đề cốt lõi mà nghiên cứu hướng đến là giải quyết khoảng cách giữa tốc độ giảm nghèo cơ học và nguy cơ tái nghèo tiềm ẩn do những thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý công về giảm nghèo bền vững, đánh giá thực trạng tổ chức thực thi chính sách giai đoạn 2021 – 2023, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ đến năm 2025 và định hướng những năm tiếp theo.

Về phạm vi, nghiên cứu triển khai trên toàn bộ địa bàn phường Bình Trị Đông với diện tích tự nhiên 295,95 ha và quy mô dân số đạt 82.088 nhân khẩu. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi trực tiếp đánh giá quá trình giảm nghèo từ mốc ban đầu 174 hộ nghèo và 129 hộ cận nghèo năm 2021 xuống còn 0 hộ nghèo và 24 hộ cận nghèo vào cuối năm 2023, đồng thời đưa ra các giải pháp quản lý để giữ vững kết quả này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển bao trùm (Inclusive Growth) của các tổ chức quốc tế và lý luận quản lý công hiện đại về an sinh xã hội. Giảm nghèo bền vững không đơn thuần là nâng cao mức thu nhập vượt qua ngưỡng tuyệt đối mà là quá trình bảo đảm người dân duy trì mức sống ổn định, có năng lực tự chống chịu trước các cú sốc kinh tế và tiếp cận bình đẳng các dịch vụ công.

Nghiên cứu vận dụng hệ thống khái niệm chuẩn mực: nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, giảm nghèo đa chiều và giảm nghèo bền vững. Hệ thống tiêu chí đánh giá được chuẩn hóa theo Nghị định số 07/2021/NĐ-CP của Chính phủ, bao gồm chuẩn thu nhập thành thị (2.000.000 đồng/người/tháng) và 6 chiều dịch vụ xã hội cơ bản (việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, thông tin) tương ứng với 12 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt. Khung phân tích kết hợp lý thuyết chu trình chính sách công để xem xét sự tương tác giữa chủ thể quản lý nhà nước, đối tượng thụ hưởng và các nguồn lực xã hội hóa.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp các kỹ thuật nghiên cứu định tính và định lượng chặt chẽ. Nghiên cứu khai thác nguồn dữ liệu thứ cấp từ 18 văn bản quản lý của phường Bình Trị Đông, 17 văn bản của quận Bình Tân, hơn 20 văn bản chỉ đạo của Thành phố Hồ Chí Minh và hệ thống báo cáo thống kê kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 – 2023. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp quan sát thực địa tại các khu phố tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số và lao động tự do.

Quy mô mẫu khảo sát xã hội học gồm 375 phiếu hợp lệ, được thực hiện theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp chọn mẫu thuận tiện. Mẫu khảo sát bao gồm 174 hộ nghèo đầu kỳ 2021 – 2025, 66 hộ cận nghèo và 135 cán bộ công chức, trưởng khu phố cùng thành viên các tổ tự quản giảm nghèo. Đồng thời, tác giả thực hiện phỏng vấn sâu đại diện lãnh đạo Ủy ban nhân dân phường, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường và các doanh nghiệp đồng hành. Lý do lựa chọn phân tích thống kê mô tả trên phần mềm Excel kết hợp phân tích định tính từ phỏng vấn sâu là nhằm đối soát chéo dữ liệu định lượng, làm rõ căn nguyên sâu xa của các rào cản chính sách từ góc nhìn đa chiều của cả người thực thi lẫn người thụ hưởng trong mốc thời gian từ đầu năm 2021 đến tháng 5 năm 2024.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kết quả giảm nghèo đạt bước tiến vượt bậc về số lượng khi toàn phường hoàn thành xóa 100% hộ nghèo trước thời hạn 2 năm. Từ 174 hộ nghèo (chiếm 34% là người dân tộc thiểu số) và 129 hộ cận nghèo năm 2021, đến cuối năm 2023 phường đã kéo giảm còn 0 hộ nghèo và 24 hộ cận nghèo (93 nhân khẩu), được Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh công nhận tại Quyết định số 5613/QĐ-UBND.

Thứ hai, công tác huy động nguồn lực an sinh xã hội đạt quy mô ấn tượng với tổng kinh phí trợ lực hàng tỷ đồng. Địa phương đã giải ngân 5,4 tỷ đồng vốn tín dụng ưu đãi cho 74 lượt hộ vay, cấp 1.118 thẻ bảo hiểm y tế trị giá 750 triệu đồng, hỗ trợ xây sửa 11 căn nhà tình thương trị giá 528 triệu đồng, hỗ trợ 999 lượt miễn giảm học phí và 159 suất học bổng trị giá 257 triệu đồng.

Thứ ba, sự thiếu hụt các chiều dịch vụ phi thu nhập vẫn diễn biến phức tạp. Khảo sát thực tế chỉ ra 35/303 hộ gia đình bị thiếu hụt diện tích nhà ở (dưới 8m2/người). Đồng thời, nhóm hộ có thu nhập sát chuẩn nghèo (từ 36 triệu đến dưới 50 triệu đồng/người/năm) chiếm tỷ lệ rất cao với 124/174 hộ (chiếm 71,26%), tiềm ẩn rủi ro tái nghèo nghiêm trọng nếu điều chỉnh nâng chuẩn an sinh.

Thứ tư, nhận thức và năng lực thực thi có sự phân hóa: 100% (240/240) hộ dân đánh giá tốt năng lực phục vụ của cán bộ, song trình độ chuyên môn của đội ngũ cơ sở còn hạn chế (chỉ 48/135 cán bộ, tổ tự quản có trình độ cao đẳng trở lên), và vẫn còn 28% hộ nghèo chưa nắm vững mục đích cốt lõi của các chương trình giảm nghèo.

Thảo luận kết quả

Thảo luận dữ liệu cho thấy kết quả giảm nghèo nhanh chóng bắt nguồn từ sự chỉ đạo quyết liệt của hệ thống chính trị và sự linh hoạt trong phối hợp giữa Ủy ban nhân dân với Mặt trận Tổ quốc cùng 4.302 cơ sở kinh tế trên địa bàn. Tuy nhiên, khi phân tích sâu các biểu đồ phân bổ thu nhập và bảng thống kê chiều thiếu hụt, tính bền vững của chương trình đối mặt với các rào cản lớn:

Cơ cấu kinh tế địa phương chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và 2.549 hộ kinh doanh cá thể, khiến nguồn lực xã hội hóa an sinh thiếu tính ổn định lâu dài. Đặc thù nhân khẩu học với 6.147 người dân tộc Hoa sống nhiều thế hệ trong diện tích chật hẹp và tỷ lệ người phụ thuộc cao (người già, trẻ em dưới 16 tuổi chiếm 34.955 nhân khẩu trên toàn phường) tạo áp lực khổng lồ lên hệ thống trường học và hạ tầng y tế. Chính sách hỗ trợ tín dụng còn phát sinh 6 trường hợp nợ quá hạn do thay đổi nơi cư trú, trong khi các giải pháp đào tạo nghề chưa gắn kết chặt chẽ với nhu cầu tuyển dụng. Kết quả này khẳng định giảm nghèo đô thị không thể chỉ dựa vào trợ cấp một chiều mà phải giải quyết triệt để bài toán việc làm tại chỗ và hạ tầng dịch vụ công.

Đề xuất và khuyến nghị

Nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp quản lý công trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả giảm nghèo bền vững trên địa bàn phường Bình Trị Đông:

Thứ nhất, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ công chức và 17 tổ tự quản giảm nghèo. Ủy ban nhân dân phường chủ trì phối hợp Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận Bình Tân tổ chức 100% các lớp bồi dưỡng kỹ năng điều tra, đánh giá nghèo đa chiều định kỳ hàng quý, nâng tỷ lệ nhân sự có chứng chỉ chuyên môn lên trên 80% trong giai đoạn 2024 – 2025.

Thứ hai, đa dạng hóa hình thức truyền thông chính sách an sinh xã hội. Ban Giảm nghèo bền vững phường triển khai ứng dụng công nghệ số và truyền thông đa ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Hoa, phấn đấu nâng tỷ lệ nhận thức thấu đáo chính sách của 100% hộ dân thuộc diện an sinh đạt mức trên 95% trước quý 4 năm 2024.

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành và huy động vốn xã hội hóa. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường phối hợp vận động hơn 30 doanh nghiệp tiêu biểu, phấn đấu duy trì nguồn quỹ Vì người nghèo đạt trên 200 triệu đồng mỗi năm, đồng thời xây dựng quy chế phối hợp giám sát dòng vốn vay tín dụng chính sách nhằm kéo giảm tỷ lệ nợ quá hạn về 0%.

Thứ tư, giải quyết căn cơ các chiều thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản. Ủy ban nhân dân phường phối hợp các sở ngành rà soát 12 khu đất công để quy hoạch cơ sở hạ tầng giáo dục, hỗ trợ cải thiện nhà ở cho 35 hộ thiếu hụt diện tích, và hỗ trợ 100% kinh phí bảo hiểm y tế, đào tạo nghề gắn với nhu cầu tuyển dụng của hơn 1.700 doanh nghiệp trên địa bàn đến cuối năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng sau:

  1. Cán bộ quản lý nhà nước và công chức phụ trách an sinh xã hội: Cung cấp khung phương pháp đánh giá 12 chỉ số thiếu hụt đa chiều và cẩm nang xử lý dữ liệu khảo sát 375 phiếu mẫu thực tế để áp dụng trong công tác giảm nghèo tại các phường, xã đông dân cư trên 80.000 người.
  2. Các nhà hoạch định chính sách cấp quận, huyện và thành phố: Sử dụng bộ số liệu thực chứng về 124 hộ có thu nhập cận chuẩn và 6 trường hợp nợ tín dụng để điều chỉnh định mức phân bổ ngân sách an sinh xã hội giai đoạn 2026 – 2030.
  3. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Quản lý công, Chính sách công: Cung cấp nguồn học liệu mẫu mực về phương pháp nghiên cứu ứng dụng kết hợp bảng biểu, biểu đồ định lượng và quy trình giải quyết vấn đề an sinh đô thị đặc thù.
  4. Các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ và doanh nghiệp: Tham khảo các mô hình liên kết tài trợ sinh kế, hỗ trợ 5,4 tỷ đồng vốn vay và xây sửa 11 căn nhà tình thương nhằm tối ưu hóa các chương trình trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

  1. Đề án đã giải quyết bài toán giảm nghèo tại phường Bình Trị Đông đạt kết quả nổi bật nào? Toàn phường đã xóa trắng 174 hộ nghèo và giảm 105 hộ cận nghèo giai đoạn 2021 – 2023, hoàn thành mục tiêu không còn hộ nghèo trước 2 năm theo Quyết định số 5613/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhờ hỗ trợ 5,4 tỷ đồng vốn vay và cấp 1.118 thẻ bảo hiểm y tế.

  2. Yếu tố đặc thù nào ảnh hưởng lớn nhất đến công tác giảm nghèo tại địa bàn nghiên cứu? Phường có quy mô dân số lớn với 82.088 nhân khẩu, trong đó 6.147 người dân tộc Hoa thường sinh sống nhiều thế hệ trong căn nhà diện tích nhỏ hẹp, cùng số lượng 34.955 trẻ em gây áp lực nặng nề lên hạ tầng giáo dục và không gian sống tại địa phương.

  3. Vì sao nguy cơ tái nghèo tại địa phương vẫn được cảnh báo ở mức cao? Khảo sát thực tế chỉ ra 71,26% hộ thoát nghèo (124/174 hộ) có mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo (dưới 50 triệu đồng/người/năm). Khi xảy ra các biến động kinh tế hoặc Thành phố điều chỉnh nâng chuẩn nghèo, nhóm đối tượng này rất dễ rơi trở lại diện nghèo.

  4. Đội ngũ cán bộ cơ sở gặp những khó khăn gì trong quá trình thực thi chính sách? Trong tổng số 135 cán bộ và thành viên tổ tự quản được khảo sát, chỉ có 48 người đạt trình độ từ cao đẳng trở lên. Đội ngũ này thường xuyên biến động và phải kiêm nhiệm nhiều mảng công việc dẫn đến khó khăn trong rà soát chuyên sâu từng hộ dân.

  5. Giải pháp đột phá nào được đề xuất để khắc phục sự thiếu hụt dịch vụ công? Nghiên cứu kiến nghị chính quyền rà soát 12 khu đất công trên địa bàn để kêu gọi xã hội hóa xây dựng trường học, trạm y tế, đồng thời kết nối trực tiếp với 4.302 doanh nghiệp và hộ kinh doanh để tạo việc làm bền vững cho người lao động.

Kết luận

  • Đề án thạc sĩ của tác giả Tằng Mành Chướng đã hệ thống hóa toàn diện lý luận và thực tiễn quản lý công về giảm nghèo đa chiều tại đô thị.
  • Đánh giá chi tiết thành tựu đưa 174 hộ nghèo về mức 0 hộ nghèo và chăm lo an sinh xã hội cho hơn 1.250 lượt người tại phường Bình Trị Đông giai đoạn 2021 – 2023.
  • Nhận diện chính xác các điểm nghẽn cốt lõi: 124 hộ có thu nhập sát chuẩn nghèo, 35 hộ thiếu hụt diện tích nhà ở và áp lực hạ tầng dịch vụ cho gần 35.000 trẻ em.
  • Xây dựng 4 nhóm giải pháp mang tính ứng dụng cao kèm lộ trình phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng chủ thể thực thi trong giai đoạn 2024 – 2025.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực chứng giúp chính quyền địa phương giữ vững thành quả an sinh, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030.

Các nhà quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể ứng dụng ngay bộ giải pháp và hệ thống dữ liệu thực chứng từ công trình này để triển khai hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo tại đơn vị và địa phương.