Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số định hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường ứng dụng CNTT Việc ứng dụng CNTT đã được Đảng và nhà nước quan tâm từ những năm đầu của thế kỉ 21 với các yêu cầu chung về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Không nằm ngoài xu thế chung, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng yêu cầu tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục nhằm “hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục, góp phần nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục”[2] Vì vậy việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy không chỉ là thay đổi hình thức dạy, mà còn là nhiệm vụ tất yếu của người GV trong công cuộc kiến thiết đất nước. Giúp cho học sinh sớm được tiếp cận với những thành tự mới để hội nhập theo xu thế của thế giới.
Trong thời đại cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, việc ứng dụng CNTT vào giáo dục lại càng cần thiết. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo một lần nữa nhấn mạnh: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; .Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” Theo [1], [3], [14], hiện nay một trong các hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học đang được tập trung hướng đến đó là xây dựng bài giảng E- learning (ưu tiên các chủ đề về môn học trong chương trình giáo dục phổ thông), tổ chức tuyển chọn và gửi về Bộ GDĐT (qua Cục CNTT) đóng góp vào kho bài giảng E-learning của ngành. Đồng thời triển khai các giải pháp học tập kết hợp và học trực tuyến trong giáo dục đại học; triển khai mô hình giáo dục điện tử, lớp học thông minh ở những nơi có điều kiện. Hiện nay nhờ có máy vi tính và Internet việc ứng dụng CNTT vào dạy học trở nên phổ biến hơn [9] 5 - Giáo viên không còn là kho kiến thức duy nhất.
Giáo viên phải thêm một chức năng là tư vấn cho học sinh khai thác một cách tối ưu các nguồn tài nguyên tri thức trên mạng và các CD-ROM. - Tiến trình lên lớp không còn máy móc theo sách giáo khoa hay như nội dung các bài giảng truyền thống mà có thể tiến hành theo phương thức linh hoạt. Phát triển cao các hình thức tương tác giao tiếp: học sinh - giáo viên, học sinh - học sinh, học sinh - máy tính,. trong đó chú trọng đến quá trình tìm lời giải, khuyến khích học sinh trao đổi, tranh luận,.
từ đó phát triển các năng lực tư duy ở học sinh. “Công nghệ thông tin cũng sẽ làm thay đổi rất lớn việc học của chúng ta. Những người nhân viên sẽ có khả năng cập nhật các kĩ thuật trong lĩnh vực của mình. Mọi người ở bất cứ nơi đâu sẽ có khả năng tham gia các khóa học tốt nhất dạy bởi các giáo viên giỏi nhất.” - Bill Gates - "Con đường phía trước" Từ đây, có thể thấy GV đóng vai trò là người hướng dẫn trong quá trình học của học sinh, học sinh là chủ thể trong quá trình tự học dưới sự hướng dẫn của GV và sự giúp đỡ của các ứng dụng CNTT hiện nay.
Những kỹ năng cần được phát triển thông qua học tập môn Toán bằng E-learning 1. Kĩ năng nhận thức 1. Kĩ năng nắm vững khái niệm Khái niệm là một hình thức tư duy phản ánh một lớp đối tượng và do đó một khái niệm có thể được xem xét theo hai phương tiện cơ bản: Bản thân lớp đối tượng xác định khái niệm gọi là ngoại diên, còn toàn bộ các thuộc tính chung của lớp đối tượng này gọi là nội hàm của khái niệm đó[10] Để nắm vững được khái niệm khi tập dượt cho học sinh cần lưu ý [10]: - Thứ nhất, cần cử dụng cả những đối tượng thuộc ngoại diên lẫn những đối tượng không thuộc ngoại diên khái niệm đó (phản ví dụ). - Thứ 2, đối với những đối tượng thuộc ngoại diên của khái niệm đang xem xét thì cần đưa ra cả những trường hợp đặc biệt của khái niệm đó.
6 - Thứ ba, đối với những đối tượng không thuộc ngoại diên của khái niệm đang xem xét, trong trường hợp đặc trưng của khái niệm có cấu trúc hội, các phản ví dụ thường được xây dựng sao cho chỉ trừ một thành phần trong cấu trúc hội, còn các thuộc tính thành phần khác đều được thỏa mãn. - Thứ tư, trường hợp cấu trúc đặc trưng của khái niệm có cấu trúc hội của 2 điều kiện, cần làm rõ cấu trúc này và hướng dẫn học sinh vận dụng thuật giải toán để nhận dạng khái niệm đó. Kĩ năng nắm vững định lí “Định lí là một khẳng định suy ra từ những khẳng định được coi là đúng”. [8] Để nắm vững định lí toán học, HS cần đạt những yêu cầu sau: - Nắm được nội dung các định lí và những mối liên hệ giữa chúng, từ đó có khả năng vận dụng các định lý vào hoạt động giải toán cũng như vào các ứng dụng khác.
- HS phải thấy được sự cần thiết của việc chứng minh định lí, đưa ra những lập luận chính xác chặt chẽ, từ đó phát triển năng lực chứng minh toán học. Kĩ năng vận dụng các quy tắc, phương pháp Để học sinh có thể vận dụng các quy tắc, phương pháp vào giải toán cần lưu ý [10]: - Thứ nhất, nên cho học sinh biết nhiều hình thức thể hiện một quy tắc, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh nắm vững nội dung từng bước và trình tự thực hiện các bước của quy tắc đó. - Thứ hai, cần trình bày rõ các bước trong những ví dụ cụ thể theo một sơ đồ nhất quán trong thời gian thích hợp. - Thứ ba, cần luyện tập cho học sinh thực hiện tốt những chỉ dẫn bên trong thuật giải hoặc quy tắc tựa thuật giải - Thứ tư, cần làm cho học sinh ý thức được và biết sử dụng các cấu trúc điều khiển cơ bản để quyết định trình tự các bước.
7 - Thứ năm, thông qua dạy học những thuật giải và quy tắc tự thuật giải, cần có ý thức góp phần phát triển tư duy thuật giải cho học sinh 1. Kĩ năng thực hành Trong môn toán kĩ năng thực hành được hiểu là việc HS vận dụng các kiến thức trong giải quyết các vấn đề toán học (giải bài tập toán). Theo Nguyễn Bá kim [10] việc thực hành giải toán của HS có thể thực hiện theo các bước sau - Bước 1: Tìm hiểu nội dung đề bài Phát biểu đề bài dưới những dạng thức khác nhau để giải bài toán; Phân biệt cái đã cho và cái phải tìm, phải chứng minh; Có thể dùng công thức, kí hiệu, hình vẽ để hỗ trợ cho việc diễn tả đề bài - Bước 2: Tìm cách giải. Tìm tòi, phát hiện cách giải nhờ những suy nghĩ có tính chất tìm đoán; Kiểm tra lời giải bằng cách xem lại kĩ từng bước thực hiện hoặc đặc biệt hóa kết quả tìm được hoặc đối chiếu kết quả với một số tri thức liên quan; Tìm tòi những cách giải khác, so sánh chúng để tìm những phương pháp tối ưu - Bước 3: trình bày lời giải.
Từ cách giải đã được phát hiện, sắp xếp các phải làm thành một chương trình gồm các bước theo một trình tự thích hợp và thực hiện các bước đó. - Bước 4: Nghiên cứu sâu lời giải. Nghiên cứu khả năng ứng dụng kết quả của lời giải Nghiên cứ giải những bài toán tương tự, mở rộng hay lật ngược vấn đề.3 Kĩ năng tự kiểm tra, đánh giá Việc học sinh tự đánh giá không những góp phần đạt được mục tiêu đánh giá mà còn có ý nghĩa giáo dục rất lớn. Việc làm này có tác dụng bồi dưỡng cho học sinh ý thức trách nhiệm, tinh thần tự phê bình, khả năng tự đánh giá, tính độc lập, lòng tự tin và tinh thần sáng tạo.[16] Việc học sinh tự đánh giá có thể diễn ra khi họ phải làm một bài tập, trình diễn một hoạt động trước lớp, tạo một sản phẩm học tập.[16] 8 Giáo viên có thể trao cho học sinh phiếu kiểm kê, thang xếp hạng, đáp án biểu điểm để các em tự đánh giá kết quả thực hiện một số bài tập ngắn hạn hoặc dài ngày.
Trong một số trường hợp nên để học sinh bàn bạc với nhau tự xây dựng tiêu chuẩn đánh giá. Một số vấn đề cơ bản về E-learning và bài giảng E-learning 1. Quan niệm về E-learning và bài giảng E-learning 1. Quan niệm về E-learning Có nhiều khái niệm và quan niệm khác nhau nói về E-learning.
Mỗi khái niệm lại nói về những khía cạnh khác nhau nên nội hàm của khái niệm cũng khác nhau. Trong đó có một số khái niệm nổi bật sau: “E-learning là học sử dụng các công nghệ điện tử để tiếp cận chương trình giáo dục bên ngoài lớp học truyền thống”[23]. “E-learning là việc sử dụng công nghệ thông tin và máy tính trong học tập” [21] Hai khái niệm trên đều tiếp cận khái niệm về E-learning dựa trên nền tảng ứng dụng CNTT và máy tính vào việc giảng dạy và học tập. Nhưng có một số khái niệm lại nhấn mạnh đến việc sử dụng E-learning qua nền tảng Internet: “E-learning là tất cả những hoạt động dựa vào máy tính và Internet để hỗ trợ dạy và học - cả ở trên lớp và từ xa” [19] “E-learning chính là sự hội tụ của học tập và Internet” [11].
“E-learning là sự phân phát các nội dung học sử dụng các công cụ điện tử như máy tính, mạng Internet. Thông qua một máy tính, người dạy và người học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: e-mail, thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo video” [7] “E-learning là hình thức học tập bằng truyền thông qua mạng Internet theo cách tương tác với nội dung học tập và được thiết kế dựa trên nền tảng phương pháp dạy học” [23] 9 “E-learning là việc sử dụng công nghệ mạng để thiết kế cung cấp, lựa chọn, quản trị và mở rộng việc học tập” [24] Khi kết hợp hai trường phái trên cũng có quan điểm về E-learning là “việc cung cấp nội dung thông qua tất cả các phương tiện điện tử bao gồm Internet, Intranet, video, âm thanh, CD-ROOM” [22] Có nhiều quan điểm khác nhau về E-learning chúng sẽ có những đặc điểm khác nhau cách thức dạy học cũng diễn ra khác nhau nên không có tài liệu nào đề cập đầy đủ về e-Learning theo tất cả những quan niệm trên.