CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới 1. Nghiên cứu trên thế giới Vào những năm đầu của thế kỷ XX, nhiều nghiên cứu bắt đầu quan tâm tới vốn xã hội, ban đầu là những quan điểm được một số nhà khoa học đưa ra tìm hiểu về vốn xã hội, sau đó là những công trình nghiên cứu đánh giá vai trò của vốn xã hội đối với nhiều lĩnh vực như kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục. Những nghiên cứu trên đã mở ra một hướng đi mới, một cách tiếp cận mới nhằm khai thác và phát huy các giá trị của vốn xã hội trong các mặt của đời sống.
Đầu tiên là cách hiểu về vốn xã hội, nhiều học giả đưa ra các định nghĩa khác nhau về vốn xã hội, nhưng quan điểm Bourdieu được nhiều người đồng ủng hộ. Ông cho rằng vốn xã hội là nguồn lực xuất phát từ mạng lưới quen biết trực tiếp hoặc gián tiếp. Trong đa số trường hợp, mạng lưới này đã có từ lâu và đã được thể chế hóa. Tác giả Buordieu cho rằng: “Vốn xã hội là một thuộc tính của mỗi cá nhân trong bối cảnh xã hội.
Bất cứ ai cũng có thể thu thập một số vốn xã hội nếu người đó nỗ lực và chú tâm làm việc ấy, và hơn nữa bất cứ ai cũng có thể dùng vốn xã hội để đem lại những lợi ích kinh tế thông thường. Song, khả năng thực hiện điều ấy tùy thuộc vào trách nhiệm xã hội móc nối và mạng lưới xã hội của người ấy” [5]. Cùng với các lý thuyết đưa ra làm rõ khái niệm của vốn xã hội là các nghiên cứu đánh giá vai trò của vốn xã hội. Tác giả Fukuyama trong bài báo 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khoa học “Vốn xã hội và phát triển: Chương trình nghị sự sắp tới” đã phân tích khái niệm của vốn xã hội và mối quan hệ giữa vốn xã hội và phát triển Để làm rõ vấn đề, ông đã lấy kết quả nghiên cứu về vốn xã hội ở Mỹ và một số quốc gia ở Mỹ La Tinh nhằm minh chứng cho những lý giải của mình.
Từ đó, Fukuyama đưa ra những vấn đề cần quan tâm khi nghiên cứu về vốn xã hội: các điều kiện thể chế hợp pháp chính thức để thúc đẩy nguồn vốn xã hội; cần chia sẻ thông tin về những thành quả đạt được của vốn xã hội, cũng như những yếu tố tiêu cực; mối quan hệ nguồn vốn xã hội và chính trị; mối quan hệ giữa vốn xã hội và sự thay đổi văn hóa [14]. Tiếp theo, Alejandro Portes trong nghiên cứu tìm hiểu nguồn gốc của vốn xã hội và những áp dụng trong xã hội học hiện đại đã chỉ ra nguồn gốc của vốn xã hội: nằm ngày trong cơ cấu các quan hệ của con người; cùng với, sự đoàn kết và liên kết xã hội là những gốc rễ tạo ra vốn xã hội. Đồng thời, ông phân tích những hệ quả tác động của vốn xã hội thông qua các nghiên cứu nhiều nhà khoa học. Bên cạnh đó, Alejandro Portes còn chỉ ra những mặt tiêu cực của vốn xã hội, do mối quan hệ chặt chẽ của các thành viên trong nhóm khiến cho các cá nhân khác khó tiếp cận, cùng với những nguyên tắc của nhóm buộc thành viên phải tuân thủ cũng sẽ tạo ra phản tác dụng [15].
Từ quan điểm của Alejandro Portes, khi nghiên cứu về một lĩnh vực nào đó chúng ta cần xem xét cả những tác động tích cực và tiêu cực của vốn xã hội. Ngoài ra, trong nghiên cứu “Vốn xã hội với sự thịnh vượng và đói nghèo của các hộ gia đình ở Indonesia” của Grootaert (1999), tác giả đã phân tích vai trò của vốn xã hội trong lĩnh vực kinh tế vi mô. Tác giả này chỉ ra rằng vốn xã hội đã giúp làm giảm đi khả năng rơi vào tình trạng đói nghèo cùa các hộ gia đình. Tác giả cũng nhận định rằng vốn xã hội mang lại lợi ích dài lâu đối với các hộ gia đình, mà cụ thể ở đây là việc tiếp cận đối với tín dụng.
Nhờ vào việc tiếp cận với tín dụng, hộ gia đình có thể tạo ra thu nhập 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ổn định [2]. Nghiên cứu về vốn xã hội được xem xét ở nhiều khía cạnh mà nó có tác động liên quan. Tác giả Harry Goulbourne cho rằng: khi nghiên cứu vốn xã hội cần quan tâm tới bối cảnh xã hội, bởi bối cảnh xã hội ở nhiều nơi có sự khác biệt. Kết luận trên có được từ nghiên cứu của tác giả về mối quan hệ giữa gia đình, công đồng và vốn xã hội ở một số quốc gia Châu Á [16].
Như vậy, những nghiên cứu về vốn xã hội trên thế giới mới chỉ tập trung làm rõ khái niệm vốn xã hội, cũng như ảnh hưởng của vốn xã hội đối với phát triển, với cộng đồng và đói nghèo. Vẫn cần có thêm nhiều công trình nghiên cứu vai trò của vốn xã hội không chỉ ở các lĩnh vực kinh tế, tài chính mà còn ở các lĩnh vực xã hội, để có đánh giá toàn diện về các khía cạnh tác động mà vốn xã hội mang lại. Nghiên cứu trong nước Trong những năm gần đây, ở Việt Nam những nghiên cứu về vốn xã hội đang được chú trọng. Nghiên cứu về vốn xã hội ở nước ta, phát triển từ những nghiên cứu mang tính tổng quan về các quan điểm và lý thuyết vốn xã hội, cho tới các công trình nghiên cứu đánh giá tác động của vốn xã hội trên các mặt kinh tế, xã hội.
Khi bàn về khái niệm và lý thuyết vốn xã hội các tác giả trong nước như Trần Hữu Dũng, Lê Ngọc Hùng, Trần Hữu Quang, Hoàng Bá Thịnh, Nguyễn Tuấn Anh bên cạnh việc giới thiệu các quan điểm khác nhau của nhiều học giả trên thế giới, các ông cũng đưa ra những nhận định và quan điểm riêng về vốn xã hội. Những nghiên cứu trên, là cơ sở lý luận cho những nghiên cứu ứng dụng vốn xã hội ở Việt Nam. Nghiên cứu thực nghiệm của tác giả Nguyễn Qúy Thanh về “Sự giao thoa giữa vốn xã hội với các giao dịch kinh tế trong gia đình: So sánh gia 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đình Việt Nam và gia đình Hàn Quốc” là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên về vốn xã hội ở Việt Nam. Trong nghiên cứu tác giả đã chỉ ra vốn xã hội có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh doanh nhỏ ở Việt Nam và Hàn Quốc.
Theo quan điểm của tác giả vốn xã hội được tạo ra từ mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, vốn xã hội là tiền đề tạo ra các nguồn vốn khác như vốn tài chính, vốn con người [17]. Tiếp theo, Nguyễn Tuấn Anh và Fleur Thomése qua nghiên cứu “Quan hệ họ hàng với việc dồn điền đổi thửa và sử dụng ruộng đất duới góc nhìn vốn xã hội ở một làng Bắc Trung Bộ”, các tác giả đã chứng minh rằng chính nhờ vào nguồn vốn xã hội nên các hộ nông dân có thể tiến hành dồn thừa, đổi ruộng một cách phi chính thức mà không cần dựa trên một loại giấy tờ hay một quan hệ mang tính chính thức và pháp lý nào. Đấy là một trong những yếu tố quan trọng giúp quá trình sản xuất nông nghiệp được linh hoạt, hiệu quả hơn. Năm 2010, tác giả Nguyễn Tuấn Anh có nghiên cứu về “Họ hàng như là vốn xã hội: Các khía cạnh kinh tế, văn hóa, xã hội của quan hệ họ hàng đang chuyển đổi ở một làng miền Bắc Việt Nam”.
Với nghiên cứu này tác giả đã làm rõ sự biển đổi vai trò của vốn xã hội trong quan hệ họ hàng. Chẳng hạn người nông dân đã sử dụng vốn xã hội trong các quan hệ họ hàng để bảo đảm các lợi ích kinh tế, đặc biệt là trong sản xuất nông nghiệp, nghề thủ công, cũng như việc quay vòng vốn. Ngoài ra, người viết cũng làm rõ vai trò của vốn xã hội trong việc tạo ra nguồn lực tài chính nhằm hỗ trợ trẻ em đến trường, tức là góp phần tạo ra vốn con người [2]. Tác giả Nguyễn Duy Thắng trong nghiên cứu năm 2007 về “Sử dụng vốn xã hội trong chiến lược sinh kế của nông dân ven đô Hà Nội dưới tác động của đô thị hóa” đã chỉ ra những đặc trưng của vốn xã hội ở Việt Nam qua các thời kỳ, đồng thời phân tích những tác động của đô thị hóa và việc sử dụng vốn xã hội trong chiến lược của nông dân ven đô.
Qua nghiên cứu tác 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giả đã cho thấy, quá trình đô thị hóa đã làm cho mối quan hệ và mạng lưới xã hội của nông dân ngày càng mở rộng ở các phường xã, điều đó làm cho lối sống của người nông dân thay đổi, cũng từ đó kéo theo những ảnh hưởng của nó tới vốn xã hội [18]. Có thể thấy, những nghiên cứu về vốn xã hội ở Việt Nam mới chỉ tập trung ở các khía cạnh về sinh kế được xem xét trên quy mô các hộ gia đình, còn thiếu nghiên cứu xem xét vốn xã hội tác động tới việc làm, đặc biệt là việc làm của thanh niên. Trong khi đó, những nghiên cứu về việc làm cho thanh niên hiện nay thường lại tập trung vào những định hướng, các yếu tố tác động đến việc làm của thanh niên. Trong đề tài “Định hướng giá trị của thanh niên trong lĩnh vực nghề nghiệp và việc làm”, tác giả Trần Xuân Vinh chỉ ra: nghề nghiệp và việc làm chính là mối quan tâm hàng đầu và là giá trị quan trọng nhất của thanh niên hiện nay.
Tác giả cũng nhấn mạnh đến giá trị việc làm bên cạnh hàng loạt các giá trị khác mà người thanh niên cần đạt được như học vấn, phẩm chất đạo đức, tác phong, lối sống. Qua đó ta cũng thấy được tầm quan trọng của nghề nghiệp việc làm đối với tầng lớp thanh niên nói chung, sinh viên nói riêng [10]. Trong công trình nghiên cứu của tác giả Trương An Quốc với mảng chủ đề “Hội nhập việc làm nghề nghiệp của người tốt nghiệp đại học - Khảo sát trên địa bàn thành phố Hà Nội” đề tài cấp Quốc gia nghiệm thu tháng 12 năm 2006, đã mô tả hiện trạng phân công lao động xã hội của lực lượng lao động có trình độ giai đoạn những năm đầu sau tốt nghiệp. Khảo sát đi sâu tìm hiểu nhu cầu của xã hội về lao động, việc làm và nghề nghiệp, cùng với mức độ đáp ứng và được đáp ứng của người lao động có trình độ.