Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VE VI PHAM PHAP LUẬT DAT DAI 1. ĐỊNH NGHĨA VA CAC NOI DUNG CƠ BAN CUA PHAP LUAT DAT DAI 1. Dinh nghĩa pháp luật dat dai Để giữ vững, duy trì sự hoạt động của bộ máy chính quyên, sự phát triển toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội thì bất kỳ nước nào cũng đều sử dụng pháp luật như là một công cụ hữu hiệu nhất đảm bảo sự vận hành cho các quan hệ xã hội trong một trật tự ôn định. Các quan hệ pháp luật đất đai cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Loại quan hệ này vô cùng đa dạng và phong phú, có sự tham gia của nhiều loại chủ thê trong nhiều mối quan hệ đan xen, chồng chéo, phức tạp. Đề cho các quan hệ đó được bền vững, tạo được sự công bằng và diễn ra theo chiều hướng Nhà nước mong muốn thì cần phải có cơ chế đảm bảo của pháp luật. Tại Việt Nam, Nhà nước đã quản lý đất đai bằng việc ban hành pháp luật dé điều chỉnh các quan hệ trong quá trình quản lý va sử dụng đất dai. Các quan hệ này chịu sự điều chỉnh của pháp luật đất đai.
Xuất phát từ quan niệm: Pháp luật là hệ thống các quy định (các quy tắc xử sự chung, các nguyên tắc và các khái niệm pháp lý) do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện dé điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích của Nhà nước, thì có thể hiểu: Pháp luật đất đai là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm diéu chỉnh các quan hệ đất dai hình thành trong quá trình chiếm hữu, sử dung va định đoạt đất đai, trên cơ sở chế độ sở hữu toàn dân về đất dai và sự bảo hộ day du cua Nhà nước đối với các quyén của người sử dung đất, bảo dam sử dung dat có hiệu quia vì lợi ích của Nhà nước, người sử dụng và của toàn xã hội. Các nội dung cơ bản của pháp luật đất đai Trên cơ sở quan niệm về pháp luật đất đai đã nêu, có thê thấy pháp luật đất đai của Việt Nam bao gồm những nội dung cơ bản sau: s* Thứ nhất, quy định về sở hữu đối với đất dai Khác với nhiều nước trên thế giới, Việt Nam chỉ thừa nhận một hình thức sở hữu duy nhất về đất đai, đó là sở hữu toàn dân (hoặc sở hữu Nhà nước). Điều này được cụ thé hóa trong các Hiến pháp và các Luật đất đai. Vi dụ, Hiến pháp năm 2013 quy định đât đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguôn lợi ở vùng biên, vùng trời, tài 6 nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý (Điều 53), đất đai thuộc sở hữu toàn dan do Nhà nước đại điện chủ sở hữu và thong nhất quản lý (Điều 4 Luật đất đai năm 2013).
s* Thứ hai, quy định về quyền và trách nhiệm của Nhà nước doi với đất dai - Về quyền của Nhà nước đối với đất đai, Luật đất đai năm 2013 quy định về chủ thé thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu đối với đất đai gồm có Quốc hội, Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp, Chính phủ, Ủy ban nhân dân (UBND) các cấp và các quyền của đại diện chủ sở hữu về đất đai như: quyết định mục đích sử dụng dat; quy định han mức sử dụng dat, thời hạn sử dung dat; quyết định thu hồi dat. - Về trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai, Luật đất đai năm 2013 quy định về chủ thể có quyền thực hiện quyền quản lý Nhà nước về đất đai; nghĩa vụ của Nhà nước đối với người sử dụng đất và những nội dung quản lý nhà nước về đất đai, gồm có những nội dung sau: + Quy định về địa giới hành chính và điều tra co bản về đất đai; + Quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng dat; + Quy dinh về giao đất, cho thuê dat, chuyên mục đích sử dụng đất; + Quy định về thu hồi đất, trưng dụng đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cu; + Quy định về đăng ký đất đaicấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDD), quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; + Quy định về tài chính về đất đai, giá đất va đấu giá quyền sử dụng đất (QSDĐ); + Quy định thủ tục hành chính về đất dai; + Quy định về hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dit liệu đất dai. s* Thứ ba, quy định về chế độ sử dụng các loại dat Căn cứ vào mục đích sử dụng đất, pháp luật đất đai chia đất thành các loại đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng. Pháp luật cũng quy định về thời hạn sử dụng đất đối với trường hợp đất sử dụng 6n định lâu dài, sử dụng có thời han; thời hạn sử dụng đất khi chuyển mục đích sử dụng đất và thời hạn sử dụng đất khi nhận chuyên QSDĐ.
s* Thứ tư, quy định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Pháp luật đất đai quy định về quyền chung của người sử dụng đất gồm có quyền chuyên đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho QSDĐ; quyền thé 7 chấp, góp von bằng QSDĐ; thời điểm và điều kiện được thực hiện các quyền của người sử dụng đất; nghĩa vụ chung của người sử dụng đất. Đồng thời, pháp luật cũng quy định cụ thê về quyền và nghĩa vụ của tổ chức sử dụng đất; quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư sử dụng đất; quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tô chức, cá nhân nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng dat. %* Thứ năm, quy định về giám sát, thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nai, 16 cáo và xử ly vi phạm pháp luật về đất đai Pháp luật đất đai quy định về giám sát việc quản lý, sử dụng đất của Quốc hội, HĐND các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tô chức thành viên của Mặt trận và của công dân. Pháp luật cũng quy định rõ về thanh tra chuyên ngành; thâm quyền giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại, khiếu kiện, tổ cáo về đất đai và xử lý đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về dat đai.
ĐỊNH NGHĨA, DAU HIỆU, CÂU THÀNH VA CÁC LOẠI VI PHAM PHAP LUẬT ĐẤT ĐAI 1. Định nghĩa vi phạm pháp luật đất đai Xuất phát từ quan niệm: Vi phạm pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật và có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đên các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, có thê hiệu: 8 Vi phạm pháp luật dat dai là hành vi trái pháp luật và có lỗi, do người có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật đất đai diéu chỉnh va bảo vệ. Dấu hiệu của vi phạm pháp luật dat đai Từ khái niệm trên, có thé thấy vi phạm pháp luật đất đai có các dấu sau: s* Thứ nhất, hành vi trái pháp luật đất dai Vi phạm pháp luật đất đai phải là hành vi trái pháp luật, tức là xử sự trái với các yêu cầu của pháp luật đất đai. Hành vi này được thê hiện dưới các hình thức sau: - Chủ thé thực hiện những hành vi bị pháp luật đất đai cam.
Vi du: Lan, chiếm, hủy hoại đất đai; vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố; lợi dụng chức vụ, quyên hạn để làm trái quy định về quản lý đất đai; cản trở, gây khó khăn đối với việc thực hiện quyền của người sử dụng dat theo quy định của pháp luật. - Chủ thể không thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật bắt buộc phải thực hiện. Vi du: Không sử dụng đắt, sử dụng đất không đúng mục đích; không thực hiện đúng quy định của pháp luật khi thực hiện quyền của người sử dụng đất; sử dụng đất, thực hiện giao dịch về QSDĐ mà không đăng ký với cơ quan nhà nước có thấm quyên; không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; không cung cấp hoặc cung cấp thông tin về đất đai không chính xác theo quy định của pháp luật; không công khai phương án bồi thường, tái định cư. - Chủ thé sử dụng quyền hạn vượt quá giới hạn cho phép.
Vi du: Trưởng thôn bán đất công cho một số cá nhân nhất định; giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất trái thẩm quyền; nhận chuyển QSDĐ nông nghiệp vượt hạn mức đối với hộ gia đình, cá nhân. Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý, việc thực hiện không đúng những quy định của pháp luật đất đai không bị coi là hành vi trái pháp luật khi có liên quan đến việc thực hiện một mệnh lệnh khẩn cấp của cơ quan nhà nước có thâm quyền hoặc do những sự kiện xảy ra ngoài ý chí và khả năng của người sử dụng dat. % Thứ hai, hành vi có lỗi của chủ thé Vi phạm pháp luật đất đai phải là hành vi có lỗi của chủ thể, tức là khi thực hiện hành vi trái pháp luật đất đai, chủ thé có thé nhận thức được hành vi của mình va hậu quả của hành vi đó, đồng thời điều khiển được hành vi của mình. Do đó, chỉ những hành vi trái pháp luật đất đai mà có lỗi của chủ thé thì mới bị coi là vi phạm pháp luật đất đai.
Còn trong trường hợp chủ thể thực hiện một xử sự có tính trái pháp luật đất đai 9 nhưng chủ thé không nhận thức được hành vi của mình va hậu quả của hành vi đó gây ra cho xã hội hoặc nhận thức được hành vi và hậu qua của hành vi của mình nhưng không điều khiển được hành vi của mình thì không bị coi là có lỗi và không phải vi phạm pháp luật đất đai. Vi du: Hành vi ném đất, đá vào người các cán bộ phòng địa chính khi họ đang tiến hành đo đạc, xác định mốc giới hành chính của anh X, xét về mặt thực tế, đây là một xử sự có tính trái pháp luật đất đai, vì đã gây cản trở trong việc thi hành công vụ, xâm hại đến quyền đại diện chủ sở hữu của Nhà nước.