Chương 1: Cơ sở lý luận về văn hóa doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng văn hóa doanh nghiệp tại DaNang Mikazuki Japanese Resorts & Spa, phường Hoà Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Chương 3: Giải pháp nâng cao văn hóa doanh nghiệp tại DaNang Mikazuki Japanese Resorts & Spa, phường Hoà Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về văn hóa doanh nghiệp 1.
Khái niệm văn hóa Văn hóa là khái niệm có nội hàm rất rộng, là đối tượng nghiên cứu chính của một ngành khoa học độc lập - ngành Văn hóa học, nhưng khái niệm văn hóa và các nội hàm của nó cũng nhận được sự quan tâm và được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau như: triết học, kinh tế học, chính trị học, hành chính học, quản lí nhà nước. Trong cuốn Culture: A critical review of concept and definitions được xuất bản năm 1952, hai tác giả A.Kroeber và Kluckhohn đã giới thiệu hơn 160 định nghĩa “văn hóa” của các nhà khoa học khác nhau. Người đầu tiên đưa ra định nghĩa về văn hóa đó là Edward Burnett Tylor (1832-1917) - nhà nhân chủng học người Anh. Trong cuốn Primitive Culture (Văn hóa nguyên thủy), Tylor cho rằng: “ Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội” [13].
Pitirim Alexandrovich Sorokin (1889-1968), nhà xã hội học người Mỹ gốc Nga, người sáng lập khoa học xã hội của Đại học Harvard lại khẳng định:“Với nghĩa rộng nhất, văn hóa chỉ tổng thể những gì được tạo ra, hay được cải biến bởi hoạt động có ý thức hay vô thức của hai hay nhiều cá nhân tương tác với nhau và tác động đến lối ửng xử của nhau” [15, tr10]. Cuối thế kỷ XX, trong “Tuyên bố về chính sách văn hóa” tại Hội nghị quốc tế về chính sách văn hóa của UNESCO họp từ ngày 26-7 đến ngày 6-8-1982 ở Mexico, đã đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể những nét đặc thù về tinh thần và vật chất, về trí tuệ và xúc cảm quy định tính cách của một xã hội hay của một nhóm xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật, văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống và tín ngưỡng” [42]. Tại Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh định nghĩa về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, 9 những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [50]. Bên cạnh đó, nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm cũng đưa ra định nghĩa về văn hóa trên cơ sở xác định bốn đặc trưng cơ bản của văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [37, tr 25]. Như vậy, có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa.
Mặc dù hiện hữu sự khác biệt về mặt ngôn từ, quan điểm và phương thức lý giải của các định nghĩa về văn hóa, tuy nhiên điểm chung có thể khái quát được về các khái niệm văn hóa đó là sự phản ánh một cách phong phú và toàn diện mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần con người. Những giá trị của văn hóa được biểu hiện có khác nhau nhưng mục đích cuối cùng là đều cố gắng vươn tới, đạt tới những giá trị nâng cao hiệu quả công việc và làm đẹp thêm cho cuộc sống. Văn hóa không phải là yếu tố bất biến mà nó là một yếu tố thường xuyên biến đổi. Yếu tố văn hóa có thể được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ cộng đồng này sang cộng đồng khác, từ cá nhân này sang cá nhân khác thông qua nhiều con đường khác nhau.
Văn hóa là một trong những yếu tố quan trọng nhất phản ánh đặc trưng, phương thức sống của mỗi cá nhân và mỗi cộng đồng, mỗi nhóm xã hội. Văn hóa có vai trò quan trọng trong việc hình thành và duy trì trật tự, sự bền vững của xã hội. Từ những quan điểm khác nhau về văn hóa trên đây, trong khóa luận này, khái niệm “văn hóa” được hiểu như sau: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên, xã hội. Khái niệm văn hoá doanh nghiệp Hiện nay có rất nhiều các quan điểm khác nhau về “văn hóa doanh nghiệp”.
Tùy theo góc nhìn của mỗi tác giả, mỗi tổ chức để đúc kết ra những khái niệm riêng biệt. Tất cả những khái niệm đó sẽ giúp chúng ta hiểu về văn hóa doanh nghiệp một cách toàn diện và đầy đủ nhất. 10 Theo chuyên gia người Mỹ Edgar H. Ông Georges De Saite Maire, chuyên gia người Pháp về doanh nghiệp vừa và nhỏ đưa ra định nghĩa như sau: “Văn hóa doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, các biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp” [5, tr 25].
Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì: “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã biết” [3]. Theo Dương Thị Liễu (2008): “Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị tinh thần) mang đặc trưng riêng biệt của doanh nghiệp có tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả thành viên doanh nghiệp” [3, tr 42. Theo Đỗ Minh Cương (2001): “Văn hóa doanh nghiệp (Văn hóa công ty) là một dạng của văn hóa tổ chức bao gồm những giá trị, những nhân tố văn hóa mà doanh nghiệp tạo ra trong quá trình sản xuất, kinh doanh, tạo nên cái bản sắc của doanh nghiệp và tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả các thành viên của nó” [39, tr. Theo Nguyễn Mạnh Quân (2011) “Văn hóa doanh nghiệp được định nghĩa là một hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của các thành viên” [21, tr.
Nhìn từ góc độ xã hội, văn hóa doanh nghiệp có thể coi là chất kết dính vô hình các thành viên trong xã hội (nhóm, cộng đồng…) với nhau tạo nên mạng lưới xã hội phát huy tác động lan tỏa cả trong và ngoài mạng lưới. Nếu xét trong hoạt động doanh nghiệp thì “văn hoá doanh nhân” là thuộc dạng văn hoá cá nhân, còn “văn hoá doanh nghiệp” là thuộc dạng văn hoá cộng đồng. Doanh nghiệp với sứ mạng tồn tại là để sản xuất của cải vật chất và làm dịch vụ. Mọi hoạt động sản xuất đều gắn liền với một dây chuyền công nghệ nhất định.
Để vận hành được các khâu của dây chuyền này, trong doanh nghiệp phải có hệ thống tổ chức, quản lý thật chặt chẽ từ khâu đầu đến khâu cuối. Điều này có nghĩa là trong các hoạt động của doanh 11 nghiệp, mọi người đều phải tuân theo những giá trị - chuẩn mực cụ thể nào đó và thực hiện theo những “khuôn mẫu văn hoá” nhất định. Từ đó, văn hoá doanh nghiệp có thể được hiểu là toàn bộ các giá trị văn hoá được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích chung. Văn hóa doanh nghiệp được thể hiện ở hệ giá trị cốt lõi và các chuẩn mực văn hoá của doanh nghiệp, bao gồm hệ thống các giá trị vật chất (biểu tượng, sản phẩm, kiến trúc…) và tinh thần (tầm nhìn, niềm tin, sứ mệnh, triết lý…) do chính doanh nghiệp sáng tạo và lưu giữ trong quá trình hình thành và phát triển của mình.
Theo Hoàng Đình Phi - Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Sannam VNN - giá trị văn hóa của doanh nghiệp bao gồm các biểu trưng trực quan và các biểu trưng phi trực quan như sau: Các biểu trưng trực quan: Là các yếu tố hữu hình của văn hóa doanh nghiệp như: kiến trúc trụ sở, văn phòng, biển hiệu, logo, trang phục. Đây chính là hình thức thể hiện bên ngoài của văn hóa. Các biểu trưng phi trực quan: Được thể hiện thông qua các đặc trưng của hành vi giao tiếp, ứng xử trong giao dịch (lịch sự, ân cần, tận tình, chu đáo…), lòng tin (sự tin cậy, tính nhất quán trong hành động…). sự cố kết, gắn bó cộng đồng (tính tập thể, tính cộng đồng, tình thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau…), uy tín của doanh nghiệp (sự tín nhiệm, sự trung thực, sự minh bạch…) [15, tr11.
Văn hóa doanh nghiệp luôn là sự thống nhất và tương hỗ hữu cơ, hài hòa của các biểu trưng trực quan và phi trực quan, trong đó các biểu trưng trực quan là hình thức thể hiện bản chất; cốt lõi bên trong là các biểu trưng phi trực quan. Bản sắc văn hóa của doanh nghiệp thể hiện cả ở các biểu trưng trực quan và phi trực quan, tạo nên những nét riêng, dấu ấn riêng dễ nhận biết đối với doanh nghiệp bên cạnh những nét văn hóa chung. Hệ thống các biểu trưng trực quan và phi trực quan trở thành động lực và chủ yếu nhất để thúc đẩy mọi người làm việc, là hạt nhân liên kết mọi người trong doanh nghiệp với nhau, liên kết doanh nghiệp và xã hội. Văn hóa doanh nghiệp tạo được nét bản sắc riêng, phân biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác.