CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ SỞ 1. Giới thuyết các khái niệm 1. Khái niệm văn hóa Trên thế giới, có đến gần 500 định nghĩa khác nhau về văn hóa. Từ những năm 90 của thế kỉ XX, những vấn đề văn hóa từ xác định khái niệm đến cấu trúc, loại hình và biểu tượng đã được các nhà nghiên cứu quan tâm một cách khá toàn diện.
Ở Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa ra đời: Trần Ngọc Thêm viết “Cơ sở văn hóa Việt Nam” (1995), hai năm sau đó Trần Quốc Vượng (chủ biên) viết “Cơ sở văn hóa Việt Nam” (1997), Đoàn Văn Chúc viết “Văn hóa học” (1997), Phan Ngọc “Bản sắc văn hóa Việt Nam” (1998), Chu Xuân Diên “Cơ sở văn hóa Việt Nam” (1999)… Trần Quốc Vượng KLTN Thông quan niệm: tin cái “Văn hóa…là địa lý được biến đổi bởi con tự nhiên người […] để từ đó hình thành một lối sống, một thế ứng xử, một thái độ tổng quát của con người đối với vũ trụ, thiên nhiên và xã hội, là cái vai trò của con người trong vũ trụ đó, với hệ thống những chuẩn mực, những giá trị, những biểu tượng, những quan niệm…tạo nên phong cách diễn tả tri thức và nghệ thuật của con người”. Trong “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam”, Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [58, 25] Với hai khái niệm này, Trần Quốc Vượng và Trần Ngọc Thêm đã đề cập đến các giá trị mà con người đã tạo nên trong quá trình sống. Tác động đến tự nhiên, con người tạo ra các giá trị vật chất (ăn, mặc, ở, đi lại). Tác động đến xã hội, con người tạo ra các giá trị tinh thần (tôn giáo, đạo đức, triết học, văn học nghệ thuật).
Tác động đến bản thân 19 Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới (Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ) mình, con người tạo ra giá trị nhân bản (chân, thiện, mĩ). Những giá trị mà con người tạo ra ấy chính là “văn hóa”. Cùng ý kiến với Trần Ngọc Thêm và Trần Quốc Vượng nhưng Phùng Qúy Nhâm nhấn mạnh thêm tính dân tộc của văn hóa: “Văn hóa là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử và mang đậm bản sắc dân tộc” [14, 249] Trong nhiều năm qua, đã có hàng trăm định nghĩa về văn hóa nhưng quan niệm của Liên hợp quốc (Unesco) đưa ra từ năm 1982, trong Hội nghị quốc tế được sử dụng nhiều hơn cả: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng.
Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng KLTN ta trở thành những sinh vật đặc biệt Thông nhân bản, cótin địa lí tính, lýphê phán và dấn thân một có óc cách đạo lí. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩ mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [80, 23-24]. Liên hợp quốc đã khẳng định văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt mà nó chính là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, đồng thời văn hóa cũng là nền tảng của sự phát triển trong xã hội loài người.
Như vậy, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau nhưng tất cả đều chung qui nhận định: văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là sản phẩm được sáng tạo bởi riêng con người. Hoạt động sáng tạo đó bao trùm lên mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống con người: đời sống vật chất, đời sống xã hội, đời sống tinh thần. Mỗi cộng đồng người có một nền văn hóa với những đặc tính riêng phân biệt với cộng đồng khác. 20 Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới (Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ) 1.
Khái niệm văn hóa dân gian Cùng với sự xuất hiện của con người là sự hiện diện của văn hóa. Văn hóa đó trước nhất là văn hóa dân gian, văn hóa của quần chúng nhân dân. Văn hóa dân gian chính là “văn hóa gốc”, “văn hóa mẹ” của mọi nền văn hóa. Văn hóa dân gian (quốc tế: folklore) là một thuật ngữ có nghĩa ghép.
Folk: nhân dân, lore: trí tuệ, trí khôn, tri thức. Là bộ phận quan trọng của văn hóa, là kho tri thức, trí tuệ vô giá của nhân dân, văn hóa dân gian được tồn tại, lưu giữ và thực hành trong nhân dân. Thuật ngữ văn hóa dân gian được sử dụng lần đầu tiên bởi nhà khoa học người Anh, William J.Thomas, trên tạp chí “The Atheneum” năm 1846. Đến nay dù đã hơn một thế kỉ rưỡi trôi qua nhưng vẫn không ngừng xảy ra nhiều cuộc tranh luận về việc thống nhất nội hàm khái niệm Folklore.
Từ điển bách khoa toàn thư Anh, 1964 xác định: “Folklore là tên gọi chung thống KLTN Thông tin địa lý nhất của những tín ngưỡng, truyền thống, thiên kiến, đạo lí, nghi lễ, mê tín dị đoan của dân gian. Những câu chuyện cổ, những bài tình ca, dân ca và những câu tục ngữ đều nằm trong khái niệm này, và nhờ vào việc mở rộng ý nghĩa của khái niệm này mà ngày nay, nó bao gồm cả những yếu tố của văn hóa vật chất mà ban đầu nó không tính đến” 2 Tổng bách khoa toàn thư Xô Viết, 1974: “Folklore là sáng tác dân gian, hoạt động nghệ thuật của nhân dân lao động. Đó là thơ ca, âm nhạc, sân khấu, múa dân tộc, kiến trúc, nghệ thuật trang trí thực hành, hội họa được nhân dân sáng tạo ra và sống trong nhân dân” 3 Đinh Gia Khánh chú ý đến tính thẩm mĩ của văn hóa dân gian: “Văn hóa dân gian bao gồm toàn bộ văn hóa tinh thần của nhân dân được tiếp cận dưới giác độ thẩm mĩ”. [26, 05] 2 Dẫn theo Ngô Đức Thịnh (chủ biên) (1990), Quan niệm về folklore, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 3 Dẫn theo Ngô Đức Thịnh (chủ biên) (1990), Quan niệm về folklore, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 21 Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới (Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ) Trần Quốc Vượng cho rằng văn hóa dân gian không phải là những điều xa lạ, nó hiện hữu ngay trong những vật nhỏ bé nhất, gần gũi nhất với cuộc sống của chúng ta.
“Nó có thể là một ngôi đền, một cái đình mà cũng có thể là một mẩu huyền thoại hay câu chuyện thần kì. Nó có thể là một cái lư hương gốm sứ cổ, một cỗ kiệu sơn son thếp vàng ngày xưa mà cũng có thể là một câu tục ngữ cổ, một khúc hát dân ca…”. Ông đã đưa ra nhận định khá bao quát: “Sáng tạo dân gian bao trùm mọi lĩnh vực đời sống, từ đời sống làm ăn thường ngày (ăn, mặc, ở, đi lại) đến đời sống vui chơi (thể thao dân gian, võ, vật, đánh cầu, hát phết), hát hò (hát đò đưa, hò giã gạo, đúm, ví, xoan, ghẹo), đến đời sống tâm linh (giỗ, tết, lễ hội)” 4. Như vậy, so với các ý kiến trên, nhận định của Trần Quốc Vượng đã mở rộng thêm các thành tố thuộc phạm trù văn hóa dân gian.
Khái quát lại từ các nhận định trên của các nhà nghiên cứu, người viết cho rằng khi nói đến folklore, người ta nghĩ đến các tác phẩm văn học và nghệ thuật dân gian như tục ngữ, ca dao, dân ca, trò chơi dân gian, sân khấu dân gian, tranh dân gian, tác phẩm KLTN Thông tin địa lý điêu khắc dân gian, tác phẩm kiến trúc dân gian…Folklore còn bao gồm các sinh hoạt văn hóa dân gian, tức là các hoạt động liên quan tới việc tổ chức sáng tác hoặc những tập quán, phong tục nhất định. Hội lễ dân gian là sinh hoạt văn hóa dân gian quan trọng nhất. Trong hội lễ có thể thấy tất cả các yếu tố của folklore, từ tập quán phong tục, thể lệ tổ chức các sinh hoạt nghi lễ và vui chơi giải trí cho đến điều kiện môi trường cần thiết cho việc sáng tạo và biểu diễn các tác phẩm văn học và nghệ thuật dân gian. Các thành tố văn hóa dân gian Để có thể đánh giá đầy đủ giá trị, đặc trưng của văn hóa dân gian, chúng ta không chỉ dựa trên những đánh giá mang tính chất chung mà cần xác định, phân loại những thành tố cơ bản nhất của nó.
Bởi khi nói tới văn hóa dân gian là nói tới các thành tố văn hóa dân gian, những thành tố này là nội dung cơ bản của văn hóa dân gian, là sự gắn bó, không tách rời, vốn nội sinh trong chính thể văn hóa dân gian. 4 Dẫn theo Bùi Mạnh Nhị (chủ biên) (1999), Văn học dân gian – những công trình nghiên cứu, NXB Giáo dục, Tp.HCM, trang 16 22 Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới (Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ) Chu Xuân Diên cho rằng folklore bao gồm những thành tố là những sáng tạo nghệ thuật có ý thức như các tác phẩm văn học dân gian, âm nhạc và múa dân gian, hội họa dân gian…cả những thành tố là những sản phẩm vừa mang tính ích dụng vừa mang tính thẩm mĩ (kiến trúc, đồ thủ công mĩ nghệ…) và cả những thành tố là những giá trị văn hóa không bao hàm ý nghĩa thẩm mĩ hiểu theo nghĩa đích thực của nó (văn hóa ẩm thực, những tri thức về môi trường tự nhiên…) [9, 231] Lê Ngọc Canh cho rằng truyền thống văn hóa là tất cả những di sản văn hóa, sáng tạo văn hóa của quần chúng nhân dân được lưu truyền từ đời này sang đời khác. Khi nói tới truyền thống văn hóa dân tộc là nói tới văn hóa tinh thần và văn hóa vật chất do nhân dân sáng tạo ra.