Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam, mối quan hệ giữa văn học viết và văn hóa dân gian luôn là mạch nguồn sáng tạo bền vững. Ở giai đoạn 1932–1945, phong trào Thơ mới bùng nổ như một cuộc cách mạng thi ca gắn liền với quá trình đô thị hóa và làn sóng tiếp nhận văn hóa phương Tây. Tuy nhiên, song song với khuynh hướng cách tân chịu ảnh hưởng của thơ ca Pháp, một bộ phận thi sĩ tiêu biểu đã lựa chọn con đường quay trở về với cội nguồn văn hóa dân tộc, tìm kiếm chất liệu thẩm mỹ nơi không gian làng quê truyền thống. Trong số đó, Nguyễn Bính, Anh Thơ và Đoàn Văn Cừ là ba gương mặt đại diện tiêu biểu nhất.

Khóa luận tốt nghiệp "Yếu tố văn hóa dân gian trong sáng tác của một số nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới (Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ)" do sinh viên Hồ Trọng Việt (lớp K38.171, ngành Sư phạm Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh) thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Điệp (tháng 5/2016) nhằm giải quyết các vấn đề học thuật cốt lõi sau:

  1. Lý do chọn đề tài:
    • Xuất phát từ xu hướng tiếp cận văn học dưới góc nhìn văn hóa học – hướng nghiên cứu liên ngành giúp bóc tách chiều sâu tư tưởng và giá trị thường hằng của tác phẩm.
    • Nhu cầu đối sánh đồng thời ba gương mặt tiêu biểu: Trong khi Nguyễn Bính đã có bề dày công trình nghiên cứu, thì mảng thơ của Anh Thơ và Đoàn Văn Cừ dưới góc độ văn hóa dân gian còn tương đối phân tán; chưa có công trình nào đặt cả ba tác giả trong tương quan đối sánh hệ thống để làm rõ mức độ tiếp thu và phong cách riêng biệt của từng người.
    • Nhu cầu thực tiễn: Phục vụ công tác giảng dạy tác phẩm của ba nhà thơ trong chương trình Ngữ văn cấp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông.
  2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Xác lập khung cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học viết.
    • Khảo sát, phân tích và đánh giá sự biểu hiện của 6 thành tố văn hóa dân gian trong thơ của Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ trên phương diện nội dung.
    • Làm sáng tỏ các thủ pháp nghệ thuật mang đậm dấu ấn dân gian (nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ, hình ảnh, thể thơ) trong sáng tác của ba tác giả.
    • Định vị nét tương đồng và bản sắc cá nhân độc đáo của từng nhà thơ trong bức tranh chung của phong trào Thơ mới.
  3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng: Các yếu tố văn hóa dân gian thể hiện trên hai bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật trong thơ của ba tác giả.
    • Phạm vi khảo sát văn bản: Tổng cộng 336 tác phẩm thơ, bao gồm:
      • 90 bài thơ của Nguyễn Bính trong tập Thơ tình Nguyễn Bính (Kiều Văn tuyển chọn và giới thiệu, NXB Đồng Nai, 1996).
      • 146 bài thơ của Anh Thơ trong Tuyển tập Anh Thơ (Ngọc Trai sưu tầm, tuyển chọn, NXB Văn học, 1987), bao gồm các tập Bức tranh quê, Theo cánh chim câu, Đảo ngọc, Hoa dứa trắng, Mùa xuân mầu xanh, Quê chồng và 20 bài thơ lẻ.
      • 100 bài thơ của Đoàn Văn Cừ trong cuốn Tuyển tập Đoàn Văn Cừ (Nguyễn Bao tuyển chọn, NXB Văn học, 1992).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và quan niệm nghiên cứu

Khóa luận vận dụng quan điểm thi pháp học và văn hóa học hiện đại để tiếp cận tác phẩm văn học:

  • Khái niệm văn hóa và văn hóa dân gian: Tác giả tổng hợp các định nghĩa của UNESCO (1982), Trần Quốc Vượng, Trần Ngọc Thêm, Phùng Quý Nhâm, Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên và Lê Ngọc Canh. Trên cơ sở xem xét văn hóa dân gian là "văn hóa gốc", mang tính chỉnh thể nguyên hợp, tác giả xác lập khung khảo sát gồm 6 thành tố cơ bản:
    1. Tín ngưỡng dân gian: Niềm tin tâm linh, sự tôn sùng lực lượng siêu nhiên, thờ cúng tổ tiên, thần linh gắn với nghi lễ truyền thống.
    2. Phong tục tập quán dân gian: Nếp sống, thói quen sinh hoạt thường nhật, cưới xin, ma chay, lễ Tết, trò chơi giải trí.
    3. Lễ hội dân gian: Sinh hoạt văn hóa cộng đồng gắn với nghi lễ và hội hè, cầu mùa, tạ ơn thần linh.
    4. Nghệ thuật dân gian: Nghệ thuật tạo hình (kiến trúc, điêu khắc, hội họa) và nghệ thuật biểu diễn (âm nhạc, diễn xướng, múa, sân khấu chèo).
    5. Tri thức dân gian: Hệ thống kinh nghiệm về tự nhiên (thời tiết, mùa vụ), con người, xã hội và kỹ thuật sản xuất.
    6. Ngữ văn dân gian: Tự sự dân gian, trữ tình dân gian (ca dao, dân ca) và lời ăn tiếng nói dân gian (thành ngữ, tục ngữ, câu đố).
  • Lý luận về mối quan hệ giữa văn hóa và văn học: Dựa trên lý thuyết của Mikhail Bakhtin, Đ.X.Likhatrop, Đỗ Thị Minh Thúy, Trần Nho Thìn, khẳng định văn học vừa là bộ phận hợp thành, vừa là phương tiện bảo lưu văn hóa, có tác động qua lại biện chứng với đời sống văn hóa dân tộc.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp Cách thức triển khai trong khóa luận
So sánh, đối chiếu Đặt ba tác giả cạnh nhau để chỉ ra điểm giao thoa khi cùng khai thác chất liệu dân gian và nét khu biệt trong cá tính sáng tạo của từng người.
Nghiên cứu liên ngành Kết hợp kiến thức văn học sử, thi pháp học với văn hóa học dân gian nhằm giải mã các biểu tượng nghệ thuật từ cội nguồn văn hóa.
Phân tích, tổng hợp Phân tích trực tiếp các văn bản thơ để đúc kết thành các luận điểm khái quát về giá trị tư tưởng và thẩm mỹ.
Thống kê, phân loại Thống kê tần số xuất hiện của các yếu tố tín ngưỡng, phong tục, từ ngữ, thể thơ, hình ảnh làng quê (thực hiện qua 11 bảng phụ lục).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề cơ sở

Dung lượng: 30 trang (từ trang 19 đến trang 48).

Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng lý luận và bối cảnh văn học sử:

  • Giới thuyết các khái niệm: Phân tích các tầng bậc khái niệm từ văn hóa, folklore đến việc cụ thể hóa 6 thành tố văn hóa dân gian làm công cụ khảo sát xuyên suốt công trình.
  • Mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học viết:
    • Văn học thế giới: Điểm qua sự ảnh hưởng của folklore trong sáng tác của Shakespeare (Anh), Pushkin, Esenin (Nga), Kawabata, Murakami (Nhật Bản), Bồ Tùng Linh, Ngô Thừa Ân (Trung Quốc).
    • Văn học Việt Nam: Khảo sát quá trình tiếp biến văn hóa dân gian qua các thời kỳ:
      • Thời kỳ trung đại: Khảo sát thơ văn Lí – Trần (Nguyễn Trung Ngạn), Nguyễn Trãi (Quốc âm thi tập đưa tục ngữ, thành ngữ vào thơ), Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du (Truyện Kiều nâng thể lục bát lên đỉnh cao), Hồ Xuân Hương (sử dụng cái tục dân gian), Nguyễn Khuyến, Tú Xương và tác phẩm văn xuôi truyền kỳ của Nguyễn Dữ (Truyền kỳ mạn lục).
      • Thời kỳ hiện đại: Dấu ấn văn hóa dân gian trong phong trào Thơ mới qua thơ Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Nguyễn Nhược Pháp, Tế Hanh, Bàng Bá Lân.
  • Phong trào Thơ mới (1932–1945) và vị trí của ba nhà thơ:
    • Phân tích 3 giai đoạn phát triển của Thơ mới (1932–1935, 1936–1939, 1940–1945) cùng các đặc trưng nổi bật: sự khẳng định cái Tôi cá nhân, nỗi sầu muộn cô đơn, cảm hứng thiên nhiên đất nước và tình yêu.
    • Xác định vị trí độc đáo của ba nhà thơ: Trong khi phong trào chịu ảnh hưởng phương Tây sâu sắc, Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ đã tạo nên khuynh hướng thơ "thuần Việt", "đánh thức người nhà quê ẩn náu trong lòng ta" (Hoài Thanh).
  • Cuộc đời và sự nghiệp của ba tác giả: Trình bày tiểu sử, xuất thân đồng quê Bắc Bộ (Nam Định, Hải Dương), các chặng đường sáng tác chính và lựa chọn văn bản khảo sát của Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ.

Chương 2: Văn hóa dân gian trong thơ Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ nhìn từ phương diện nội dung

Dung lượng: 52 trang (từ trang 49 đến trang 100).

Chương 2 đi sâu bóc tách sự thâm nhập của 6 thành tố văn hóa dân gian vào thế giới hình tượng thơ của từng tác giả:

  1. Tín ngưỡng dân gian:
    • Phân tích tâm thức tôn sùng lực lượng siêu nhiên, sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng phồn thực và đặc biệt là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
    • Thống kê cho thấy tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên xuất hiện 11 lần trong ngữ liệu khảo sát (Đoàn Văn Cừ 7 lần, Anh Thơ 4 lần), thể hiện rõ nét qua các thi phẩm miêu tả bàn thờ ngày Tết, tục thắp nhang, lễ cúng tổ tiên (Chiều ba mươi Tết, Ngày Tết, Rằm tháng bảy, Tục làng). Ngược lại, Nguyễn Bính hầu như không đưa yếu tố tín ngưỡng vào thơ.
  2. Phong tục tập quán dân gian:
    • Tái hiện sinh động bức tranh sinh hoạt làng quê cổ truyền: tục nhuộm răng đen, ăn trầu, trang phục truyền thống (áo tứ thân, yếm đào, thắt lưng xanh), phong tục đón Tết Nguyên đán, tục lệ cưới xin, lễ dạm ngõ, ma chay.
    • Đoàn Văn Cừ nổi trội ở việc miêu tả tập tục cộng đồng; Anh Thơ đi sâu vào nếp sinh hoạt gia đình, chuẩn bị Tết; Nguyễn Bính tập trung vào phong tục gắn với tình duyên đôi lứa.
  3. Lễ hội dân gian:
    • Không gian lễ hội mùa xuân, hội làng, hội chùa (chùa Hương, hội Lim), các trò chơi dân gian như đu tiên, chọi gà, đấu vật, cờ người, thả diều.
    • Thơ Đoàn Văn Cừ hiện lên như một cuốn phim tài liệu rực rỡ sắc màu về hội hè đình đám; Anh Thơ ghi lại không khí hội làng êm ả; Nguyễn Bính nhìn hội hè như cái cớ để lứa đôi gặp gỡ, hò hẹn.
  4. Nghệ thuật dân gian:
    • Tái hiện nghệ thuật diễn xướng dân gian, tiếng trống chèo, làn điệu dân ca, hát quan họ, hát đúm, không gian sân đình; nghệ thuật tạo hình dân gian qua hình ảnh tranh Đông Hồ, câu đối đỏ, đồ thủ công mỹ nghệ.
  5. Tri thức dân gian:
    • Phản ánh hệ thống kinh nghiệm dân gian về thời tiết ("mưa xuân phơi phới bay", "gió heo may"), tri thức mùa vụ nông nghiệp (cấy lúa, hái dâu, chăn tằm), kinh nghiệm ứng xử cộng đồng qua nếp sống "tối lửa tắt đèn có nhau".
  6. Ngữ văn dân gian:
    • Sự thẩm thấu của thi liệu ca dao, dân ca, truyền thuyết, cổ tích vào tứ thơ. Nguyễn Bính chịu ảnh hưởng sâu đậm nhất từ cấu tứ trữ tình ca dao; Đoàn Văn Cừ vận dụng các câu thành ngữ, tục ngữ chỉ không khí hội hè ("vui như Tết", "đông như trẩy hội").

Chương 3: Văn hóa dân gian trong thơ Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ nhìn từ phương diện nghệ thuật

Dung lượng: 36 trang (từ trang 101 đến trang 136).

Chương 3 khảo cứu phương thức biểu hiện và thi pháp nghệ thuật dân gian:

  1. Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
    • Nguyễn Bính: Khắc họa mẫu nhân vật trữ tình "chàng trai - cô gái quê" mang tâm trạng tương tư, lỡ duyên, tâm sự kẻ tha hương nhớ về "chân quê".
    • Anh Thơ: Xây dựng hình tượng người phụ nữ nông thôn, cô gái dệt vải, bà cụ già, đứa trẻ quét sân qua cái nhìn tả chân tĩnh lặng và đượm nữ tính.
    • Đoàn Văn Cừ: Hướng ngòi bút vào nhân vật đám đông, tập thể cộng đồng làng xã náo nức trong phiên chợ Tết, đám rước hội xuân (thầy khóa, chú bé, cụ già tóc bạc, cô gái má hồng).
  2. Nghệ thuật xây dựng kết cấu:
    • Vận dụng kết cấu đối đáp, hỏi - đáp, kết cấu vòng tròn, kết cấu thời gian mùa vụ tuần hoàn mang tính chu kỳ của văn hóa nông nghiệp lúa nước.
  3. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ:
    • Khai thác lớp từ ngữ khẩu ngữ, lời ăn tiếng nói bình dị, mộc mạc của người nông dân Bắc Bộ; vận dụng nhuần nhuyễn thành ngữ, tục ngữ, ca dao vào câu thơ hiện đại.
  4. Nghệ thuật chọn lựa hình ảnh:
    • Hệ thống thi ảnh dân dã, biểu tượng truyền thống của làng quê: giậu mồng tơi, hoa xoan tím, bến đò, cây đa, cổng làng, giàn trầu, cánh buồm nâu.
    • Vận dụng các cặp biểu tượng ẩn dụ quen thuộc trong ca dao: thuyền – bến, mưa xuân – lúa non, cây – quả.
  5. Nghệ thuật sử dụng thể thơ:
    • Khảo sát sự phục hưng của thể thơ lục bát truyền thống (đặc biệt ở Nguyễn Bính với âm điệu ngọt ngào, mềm mại); sự kết hợp giữa thể thơ bảy chữ, tám chữ hiện đại với nhịp điệu và nhạc cảm dân gian ở Anh Thơ và Đoàn Văn Cừ.

Kết quả và đóng góp

Kết quả khảo sát và so sánh phong cách

Từ việc khảo sát 336 tác phẩm và tổng hợp 11 bảng phụ lục định lượng, khóa luận khái quát diện mạo nghệ thuật của ba nhà thơ qua bảng đối sánh sau:

Tiêu chí Nguyễn Bính Anh Thơ Đoàn Văn Cừ
Khuynh hướng chủ đạo Thơ trữ tình đồng quê, nghiêng về "hồn quê" Thơ tả chân đồng quê, nghiêng về "cảnh quê" Thơ tả chân phong tục, nghiêng về "tập tục quê"
Thành tố nội dung nổi bật Ngữ văn dân gian (ca dao), tình cảm gia đình, tình yêu lứa đôi Cảnh sắc bốn mùa, nếp sinh hoạt gia đình, lễ Tết Lễ hội dân gian, phong tục tập quán, phiên chợ Tết
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Rất hiếm khi đề cập Xuất hiện 4 lần (Tuyển tập Anh Thơ) Xuất hiện 7 lần (Tuyển tập Đoàn Văn Cừ)
Hình tượng nhân vật trung tâm Nhân vật cái Tôi cô đơn, chàng trai, cô gái quê lỡ duyên Con người lao động đời thường, phụ nữ, trẻ em Đám đông cộng đồng đa dạng lứa tuổi, tầng lớp
Thể thơ ưu thế Thể lục bát mang âm điệu ca dao Thể thơ 7 chữ, 8 chữ tả cảnh tĩnh Thể thơ 8 chữ giàu tính tự sự, nhịp điệu rộn rã

Đóng góp của đề tài

  • Đóng góp lý luận và học thuật: Góp phần chứng minh quy luật tiếp biến văn hóa trong văn học viết; khẳng định phương pháp tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa học là hướng đi khoa học, giúp khám phá trọn vẹn giá trị tác phẩm.
  • Đóng góp tư liệu: Cung cấp hệ thống tư liệu thống kê định lượng chi tiết gồm 11 phụ lục (85 trang) về tín ngưỡng, phong tục, lễ hội, thành ngữ, hình ảnh làng quê và biện pháp tu từ trong thơ của ba tác giả.
  • Đóng góp thực tiễn: Cung cấp tài liệu tham khảo chuyên sâu cho giảng viên, sinh viên ngành Ngữ văn và giáo viên phổ thông trong việc giảng dạy các tác phẩm thơ của Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Phạm vi khảo sát giới hạn trong 3 tuyển tập thơ cụ thể với tổng số 336 bài, chưa bao quát toàn bộ sáng tác trọn đời của ba tác giả (nhất là mảng sáng tác sau Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến của Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ).
    • Chưa mở rộng khảo sát các thể loại phi thơ ca (như tiểu thuyết Răng đen, hồi ký của Anh Thơ) để có cái nhìn toàn diện hơn về cảm quan văn hóa dân gian trong ngòi bút của tác giả.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi ngữ liệu sang toàn bộ tác phẩm ngoài giai đoạn Thơ mới của ba thi sĩ.
    • Mở rộng đối sánh văn hóa dân gian với các nhà thơ đồng thời cùng viết về đề tài nông thôn như Bàng Bá Lân, Nam Trân, Hằng Phương, Nguyễn Nhược Pháp.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên cao học: Ngành Sư phạm Ngữ văn, Văn học Việt Nam, Văn hóa học cần tài liệu phương pháp luận về tiếp cận tác phẩm văn học dưới góc nhìn văn hóa dân gian.
  • Giáo viên Ngữ văn cấp THCS và THPT: Tham khảo trực tiếp hệ thống phân tích thi pháp, hình ảnh thơ và phong cách tác giả để phục vụ soạn giảng các bài học liên quan đến phong trào Thơ mới và các tác gia Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ.
  • Người nghiên cứu chuyên sâu: Khai thác 11 bảng phụ lục thống kê chi tiết (85 trang) làm dữ liệu so sánh định lượng về thi pháp và ngôn ngữ thơ ca giai đoạn 1932–1945.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận khảo sát bao nhiêu tác phẩm và từ những nguồn văn bản nào?
Khóa luận tiến hành khảo sát tổng cộng 336 bài thơ, bao gồm: 90 bài thơ của Nguyễn Bính trong cuốn Thơ tình Nguyễn Bính (Kiều Văn tuyển chọn, NXB Đồng Nai, 1996); 146 bài thơ của Anh Thơ trong cuốn Tuyển tập Anh Thơ (Ngọc Trai tuyển chọn, NXB Văn học, 1987); và 100 bài thơ của Đoàn Văn Cừ trong cuốn Tuyển tập Đoàn Văn Cừ (Nguyễn Bao tuyển chọn, NXB Văn học, 1992).

2. Tác giả đã chia văn hóa dân gian thành những thành tố cụ thể nào để khảo sát ở Chương 2?
Dựa trên các nghiên cứu văn hóa học dân gian, tác giả xác lập khung khảo sát gồm 6 thành tố: (1) Tín ngưỡng dân gian, (2) Phong tục tập quán dân gian, (3) Lễ hội dân gian, (4) Nghệ thuật dân gian, (5) Tri thức dân gian, và (6) Ngữ văn dân gian.

3. Tín ngưỡng dân gian nào được khảo sát sâu nhất trong thơ Anh Thơ và Đoàn Văn Cừ?
Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là nội dung tín ngưỡng xuất hiện sâu đậm nhất, được ghi nhận tổng cộng 11 lần trong các ngữ liệu khảo sát (Đoàn Văn Cừ 7 lần, Anh Thơ 4 lần), thể hiện tập trung qua các bài thơ viết về bàn thờ ngày Tết, tục thắp nhang và nghi lễ gia đình cổ truyền (Chiều ba mươi Tết, Ngày Tết, Rằm tháng bảy, Tục làng).

4. Điểm khác biệt cốt lõi về cảm quan thẩm mỹ giữa Nguyễn Bính, Anh Thơ và Đoàn Văn Cừ là gì?
Như TS Chu Văn Sơn nhận định và được khóa luận chứng minh: Đoàn Văn Cừ trội về "tập tục quê" với cảnh hội hè náo nức và nhân vật đám đông; Anh Thơ mạnh về "cảnh quê" với những bức tranh tả chân êm ả, đượm tính nữ; còn Nguyễn Bính thâu gom tất cả để tái hiện "hồn quê" gắn liền với tâm trạng trữ tình mang phong vị ca dao.

5. Hệ thống phụ lục của khóa luận gồm những nội dung gì?
Khóa luận có 11 bảng phụ lục với độ dày 85 trang, thống kê chi tiết về: yếu tố tín ngưỡng, phong tục tập quán, lễ hội, nghệ thuật dân gian, tri thức dân gian, ngữ văn dân gian, nhân vật cô gái – chàng trai, biện pháp ẩn dụ, biện pháp so sánh, thành ngữ - tục ngữ - ca dao, và hình ảnh cảnh vật làng quê trong thơ của ba tác giả.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hồ Trọng Việt đã làm sáng tỏ sự tiếp biến và chi phối sâu sắc của văn hóa dân gian đối với phong cách sáng tác của Nguyễn Bính, Anh Thơ và Đoàn Văn Cừ. Qua việc phân tích toàn diện 6 thành tố văn hóa ở phương diện nội dung và 5 bình diện thi pháp nghệ thuật, công trình đã khẳng định bản sắc dân tộc độc đáo của ba nhà thơ trong bức tranh chung của phong trào Thơ mới 1932–1945. Với hệ thống 11 phụ lục thống kê định lượng công phu, khóa luận là tài liệu tham khảo có giá trị khoa học và thực tiễn cao cho công tác nghiên cứu văn học sử cũng như giảng dạy Ngữ văn tại nhà trường phổ thông.