Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐỀ TÀI 1. Khái niệm liên quan đề tài 1. Vận dụng Theo từ điển mở Wiktionary vận dụng có nghĩa là: “Đem tri thức, lí luận áp dụng vào thực tiễn”. Khả năng xử lý tình huống cụ thể sử dụng sự hiểu biết và các kiến thức đã được học gọi là vận dụng như: Khả năng yêu cầu người học phải biết giải quyết các vấn đề nào đó vận dụng các phương pháp, các nguyên lí hay các kiến thức, ý tưởng.
Qua đó khai thác ứng dụng những hiểu biết, nhận biết thông tin để giải quyết vấn đề đặt ra. Mục tiêu hướng tới của quá trình dạy học là học sinh biết sử dụng những kiến thức để vận dụng giải quyết các vấn đề trong thực tế. Giúp các em HS phát triển kỹ năng ứng dụng kiến thức và sự hiểu biết của mình vào thực hành, sáng tạo sản phẩm trong quá trình dạy học Mỹ thuật cấp trung học cơ sở. Bên cạnh đó giáo viên thông qua việc đưa người học vào các tình huống thực tiễn cụ thể và việc giải quyết tình huống này sẽ giúp các em học sinh chủ động chiếm lĩnh kiến thức và phát triển toàn diện các kỹ năng, sáng tạo ra các sản phẩm mỹ thuật và kỹ năng giải quyết các tình huống cụ thể trong cuộc sống.
Trong luận văn này, học viên hướng đến hai nhóm biện pháp giảng dạy: Dạy học kết hợp giữa thực tiễn và lý thuyết và dạy học bằng những trải nghiệm thực tế với kiến trúc đình làng So, nhằm phát triển kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho các em học sinh theo những mức độ khác nhau, sáng tạo các sản phẩm thực hành ở các chủ đề khác nhau một cách tối ưu và hiệu quả nhất, trên cơ sở định nghĩa những kỹ năng vận dụng kiến thức và sự hiểu biết, vai trò ý nghĩa của kỹ năng ứng dụng kiến thức vào thực tiễn trong dạy học. Nghệ thuật chạm khắc Theo Từ điển thuật ngữ Mỹ thuật phổ thông: Chạm khắc là “Vạch ra những đường nét, hình hài, làm trũng sâu xuống từ một bề mặt cứng như gỗ, 14 kim loại, đá. bằng dụng cụ nhọn sắc hoặc bằng phương pháp ăn mòn hóa học” [46, tr. Ví dụ họa sĩ dùng dao khắc lên những tấm gỗ làm thành ván in (tấm gỗ được họa sĩ khắc, đục các hình ảnh mà mình muốn thể hiện trong tranh; nhà điêu khắc dùng đục, rìu để chạm khắc trên những mặt gỗ hay những phiến đá… [44, tr.
Theo cuốn Giáo trình mỹ thuật học của Trần Tiểu Lâm và Phạm Thị Chỉnh đã từng viết: "Chạm khắc là một thể loại phù điêu. Ở loại này, nét và mảng nền được khắc sâu xuống tạo độ nổi cho hình tượng nhân vật. Các hình tượng được hiện lên do khắc hoặc đục lõm xuống từ một mặt phẳng gỗ, thạch cao, đá hoặc kim loại…" [44, tr. Theo cuốn Từ Điển Bách Khoa Việt Nam viết: “Chạm kỹ thuật điêu khắc, đục xuống mặt vật liệu (đá, gỗ, ngà…) để làm nổi bật lên các hình tượng nghệ thuật muốn diễn tả, ở sau phù điêu bằng chạm nổi.
Các kỹ thuật chạm chủ yếu là chạm nổi (cao, vừa, thấp), chạm bong hay chạm kênh, chạm lộng hay chạm thủng” [63, tr. Trong cuốn sách Đại từ điển Tiếng Việt tác giả Nguyễn Như Ý viết khái niệm nghệ thuật chạm khắc: “Chạm là xoi, đục, trổ trên gỗ, đá, tạo nên các hình khối nghệ thuật” [62, tr. Như vậy ta có thể hiểu nghệ thuật chạm khắc là một thủ pháp của dân gian, là cách tạo hình nét, làm trũng sâu xuống trên bề mặt các vật liệu cứng bằng dụng cụ sắc và cứng nhằm tạo cho hình tượng nhân vật có độ nổi để ghi lại, giữ lại lâu không phai mờ bằng các ngôn ngữ nghệ thuật thẩm mỹ. Kiến trúc đình làng Theo cuốn Việt Nam tự điển: “Đình là một công trình kiến trúc cổ truyền ở làng quê Việt Nam, là nơi thờ Thành hoàng, những người có công, anh hùng tín ngưỡng và cũng là nơi hội họp của người dân trong cộng đồng” [31, tr.
Theo cuốn Đình làng miền Bắc “Toàn bộ ngôi đình có đặc điểm quan trọng, là một cấu trúc nổi, đứng trên mặt đất, không cần chân móng. Hệ thống 15 cột, kèo và xà giằng nhau thành kết cấu vững chắc kê lên nền gạch hay đất nện qua những chân tảng (hay hòn tảng) bằng đá đỡ chân cột. Mái đình càng to nặng, sức nén xuống các chân cột càng lớn, và bộ khung càng vững chãi. Vì thế chúng ta thường thấy các ngôi đình Việt Nam thường có hàng chân cột vững chãi để cho bộ mái đồ sộ gối lên.
Với khoảng cách từ giọt gianh xuống đất khá thấp khi quan sát so với chiều cao của mái và thường khoảng 1/3 so với tổng thể. Như vậy, Kiến trúc đình làng là công trình thiết kế được bảo tồn khá trọn vẹn bởi những người dân đất Việt với những đặc điểm nghệ thuật mang đậm nét dân tộc và đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam, trong sáng, độc đáo và ít bị ảnh hưởng bởi những yếu tố ngoại lai. Với chức năng là nơi sinh hoạt cộng đồng của làng và chức năng thờ thành hoàng làng, đình làng là công trình kiến trúc cổ vô cùng đặc sắc mang đậm tính dân tộc của người Việt, công trình đã bảo tồn được những nét đẹp nghệ thuật dân gian có giá trị cao. Bố cục tổng thể của đình làng Việt Vị trí, địa điểm: Khi xây dựng công trình kiến trúc đình làng người ta chọn nơi xây dựng đình thường được đặt ở những nơi có thế đất thoáng đãng và phía trước mặt đình thường có hồ nước tự nhiên, nhìn ra sông nước, hoặc hồ nhân tạo theo nguyên tắc “Tụ thủy”.
Đình làng được dựng thường gần với khu vực sinh sống của người dân thuận đường nối với các thôn, ngõ, nguyên tắc phong thủy được các nghệ nhân ưu tiên hàng đầu khi xây dựng [H1. Quần thể kiến trúc đình làng có thể là một công trình độc lập cũng có khi nằm cạnh chùa tạo thành một quần thể kiến trúc rộng lớn. Các công trình như Hồ nước, Nghi môn, Nhà Tiền tế, Đại Đình, Hậu cung, 2 bên có thêm nhà hành lang tả, hữu 2 bên được các nghệ nhân xưa bố cục đối xứng qua trục chính chạy dài [H1. Phía trước đình thường có nhiều cây xanh và sân rộng nơi này có thể tập hợp đông người trong những ngày 16 lễ hội.
Kiến trúc cơ bản của ngôi đình bao gồm tòa đại đình, sân đình, hồ, ao hoặc giếng phía trước đình. Đại đình: còn được gọi tên là đại bái, đây chính là nơi tổ chức nghi lễ sinh hoạt chung của cộng đồng trong làng xã, khu vực hành chính và công vụ nên có diện tích với không gian rộng lớn, bề thế và uy nghi, trang trọng. Thông thường gồm có 5,7 gian có trái hoặc không trái. Mái của ngôi đình có 2 dạng khác nhau: Dạng 4 mái và dạng 2 mái, tường xây bịt 2 trái [H1.
Đại đình ban đầu thường được xây theo dạng chữ Nhất, về sau tạo thành hình chữ Đinh, Công do hậu cung phát triển lùi phía sau. Gian này được thờ trong chính giữa đình và đó cũng là khu vực để thực hiện những nghi lễ cúng bái và cũng là nơi được người dân trong làng coi là lối của các vị Thánh hay Thành hoàng làng. Hậu cung: còn có tên gọi khác là nội điện, là nơi dùng để thờ vị Thành hoàng làng và nơi này thường là chỗ lưu giữ nhiều vật linh thiêng, dù trong không gian nhỏ nhưng được làm kín đáo, trang nghiêm, cửa khu vực hậu cung thường được đóng kín để không ai được vào. Hậu cung thường đặt ở vị trí trung tâm, không gian khép kín và rất thiêng liêng [H1.
Hậu cung có không gian kiến trúc không cần quá lớn nhưng ở trung tâm và được trang trí đẹp mắt. Nhà tiền tế hay còn gọi là phương đình: Được xây dựng với khuôn khổ, quy mô nhỏ hơn Đại đình, không có cửa vách bao quanh, mặt bằng hình vuông và có 2 tầng mái [H1. Phải đến cuối thế kỷ XVII nhà Tiền tế mới được đưa vào xây dựng và xuất hiện nhiều vào thế kỷ XIX. Để có thể dễ dàng tập hợp đông đảo mọi người dân tham gia rước lễ hoặc vui chơi giải trí, cùng với bộ phận sân đình, các hành lang Tả vu, Hữu vu, … đây chính là bộ phận nối tiếp giữa kiến trúc đình làng với ngoại cảnh tổng quan, khoáng đạt và rộng mở.
Nhà tả vu, hữu vu: Trước đại đình thường là sân đình phía hai bên có hai dãy nhà tả vu và hữu vu hay còn gọi nhà hành lang bên trái và bên phải 17 hoặc còn có tên gọi khác là tả mạc và hữu mạc: đây là khu vực có mái che và không có tường xây xung quanh, nếu có cũng chỉ được các nghệ nhân bao mặt bên, mặt chính để hở, là nơi các quan sửa soạn mũ áo trước khi vào tế hoặc là nơi dân làng chuẩn bị cỗ bàn. Cấu trúc của đình làng Công trình kiến trúc của đình làng có quy mô vô cùng to lớn khi nhìn từ phía ngoài vào trong. Bên ngoài của mái đình với đôi bàn tay của các nghệ nhân khéo léo và tài hoa được tạo hình uốn lượn nhẹ nhàng, mái chiếm 2/3 chiều cao công trình với 4 góc xòe rộng, đặt trên những cây cột to khỏe, trơn và vững trãi [H.120] Bờ nóc được tạo hơi võng xuống, có khi giống như một con thuyền lớn với 2 đầu nhô cao vút ra ngoài. Thông thường, bờ chảy đắp các con phượng, con lân, trên 2 đầu bờ nóc được các nghệ nhân được đắp thêm hình con Kìm Lạc long thủy quái… ở chính giữa tạc hình lưỡng long chầu nguyệt rất tinh xảo.
Những đầu đao cong vút bốn góc mái sẽ nhô cao nhờ các tàu mái uốn cong đan cài ở 4 góc đã tạo nên sự khỏe khoắn mà không kém phần uyển chuyển, duyên dáng của công trình kiến trúc Đình làng. Hệ thống cột trong công trình kiến trúc đình làng được bào nhẵn, để mộc, có một số đình làng các cột cái được chạm khắc họa tiết rồng mây và sơn son thiếp vàng. Bộ khung cấu kiện gỗ [H1.121] được nối với nhau bằng mộng cực kỳ tinh xảo và linh hoạt [H1.121,122], có thể tháo lắp và di chuyển ở vị trí mới một cách dễ dàng. Hệ thống bộ khung kết cấu gỗ chịu lực trong kiến trúc đình được thể hiện rất rõ tính giản đơn, thống nhất, tính tiêu chuẩn và điển hình.