Thực trạng và giải pháp khai thác nghệ thuật chèo Hải Dương phục vụ phát triển du lịch

Khóa luận tốt nghiệp phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp khai thác nghệ thuật chèo Hải Dương nhằm phát triển du lịch bền vững.

Trường đại học

Đại học Dân lập Hải Phòng

Chuyên ngành

Văn hóa Du lịch

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn tốt nghiệp
112
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Nghệ thuật chèo và Hải Dương

Nghệ thuật chèo là một loại hình nghệ thuật truyền thống đặc sắc của Việt Nam, có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời. Hải Dương là một trong những cái nôi của nghệ thuật chèo, với những đóng góp quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển loại hình nghệ thuật này. Nghệ thuật chèo ở Hải Dương không chỉ mang giá trị văn hóa mà còn có tiềm năng lớn trong việc phát triển du lịch. Tuy nhiên, việc khai thác nghệ thuật chèo để phục vụ du lịch vẫn còn nhiều hạn chế, đòi hỏi những giải pháp cụ thể và hiệu quả.

1.1. Lịch sử và đặc trưng của nghệ thuật chèo

Nghệ thuật chèo bắt nguồn từ vùng đồng bằng Bắc Bộ, với những chiếng chèo nổi tiếng như Chiếng chèo Đông (Hải Dương - Hưng Yên). Nghệ thuật này mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, với những làn điệu, tích trò và nhân vật đặc trưng. Hải Dương đã góp phần quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển chèo, với những nghệ nhân tài ba và các nhà hát chèo hoạt động tích cực. Đặc trưng của chèo là sự kết hợp giữa âm nhạc, diễn xuất và kịch bản, tạo nên một loại hình nghệ thuật tổng hợp độc đáo.

1.2. Tiềm năng du lịch của nghệ thuật chèo Hải Dương

Nghệ thuật chèo ở Hải Dương có tiềm năng lớn trong việc thu hút khách du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa. Việc kết hợp chèo với các tour du lịchsự kiện văn hóa có thể tạo ra những trải nghiệm độc đáo cho du khách. Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả, cần có những chiến lược quảng bá và tổ chức các hoạt động văn hóa đa dạng, nhằm thu hút sự quan tâm của du khách trong và ngoài nước.

II. Phát triển du lịch dựa trên nghệ thuật chèo

Phát triển du lịch dựa trên nghệ thuật chèo là một hướng đi tiềm năng để thúc đẩy du lịch địa phươngdu lịch cộng đồng. Việc kết hợp chèo với các hoạt động du lịch không chỉ giúp bảo tồn di sản văn hóa mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế của địa phương. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả, cần có sự đầu tư vào cơ sở hạ tầng, đào tạo nhân lực và xây dựng các chương trình du lịch hấp dẫn.

2.1. Giải pháp khai thác nghệ thuật chèo trong du lịch

Để khai thác hiệu quả nghệ thuật chèo trong phát triển du lịch, cần có những giải pháp cụ thể như tổ chức các hội thảo du lịch, xây dựng các tour du lịch văn hóa và quảng bá rộng rãi thông qua các phương tiện truyền thông. Bên cạnh đó, việc kết hợp chèo với các di sản văn hóa khác của Hải Dương sẽ tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo, thu hút du khách.

2.2. Phát triển bền vững ngành du lịch

Phát triển bền vững là yếu tố quan trọng trong việc khai thác nghệ thuật chèo để phát triển du lịch. Cần có sự cân bằng giữa việc bảo tồn di sản văn hóa và khai thác du lịch, đảm bảo rằng các hoạt động du lịch không làm ảnh hưởng đến giá trị văn hóa của chèo. Đồng thời, cần có sự tham gia của cộng đồng địa phương trong các hoạt động du lịch, nhằm tạo ra nguồn thu nhập bền vững và nâng cao nhận thức về giá trị di sản.

III. Thực trạng và thách thức

Mặc dù có tiềm năng lớn, việc khai thác nghệ thuật chèo để phát triển du lịch tại Hải Dương vẫn gặp nhiều thách thức. Những hạn chế về cơ sở hạ tầng, thiếu sự đầu tư và quảng bá hiệu quả đã làm giảm sức hấp dẫn của chèo trong mắt du khách. Để vượt qua những thách thức này, cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, các nhà quản lý văn hóa và cộng đồng.

3.1. Thực trạng khai thác nghệ thuật chèo

Hiện nay, việc khai thác nghệ thuật chèo để phục vụ phát triển du lịch tại Hải Dương vẫn còn nhiều hạn chế. Các hoạt động du lịch liên quan đến chèo chưa được tổ chức một cách bài bản và thiếu sự đa dạng. Điều này dẫn đến việc chèo chưa thực sự trở thành một sản phẩm du lịch hấp dẫn, thu hút được sự quan tâm của du khách.

3.2. Thách thức và giải pháp

Một trong những thách thức lớn nhất là thiếu sự đầu tư vào cơ sở hạ tầng và quảng bá du lịch. Để giải quyết vấn đề này, cần có sự đầu tư mạnh mẽ từ chính quyền địa phương và các doanh nghiệp du lịch. Đồng thời, việc nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của nghệ thuật chèo cũng là yếu tố quan trọng để thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành du lịch.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Khái quát chung về nghệ thuật sân khấu chèo truyền thống.Tìm hiểu nghệ thuật chèo Hải Dương. Một số giải pháp nhằm bảo tồn và khai thác hiệu quả nghệ thuật chèo Hải Dương nhằm phát triển du lịch. Sinh viên Lê Thị Oanh – VH 1101 4 Thực trạng và giải pháp khai thác nghệ thuật chèo Hải Dương phục vụ phát triển du lịch CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU CHÈO TRUYỀN THỐNG.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Chèo.1 Câu truyện truyền thuyết về bà tổ nghề hát chèo.

Bà tổ của nghề hát chèo là bà Phạm Thị Trân, sinh năm 926, mất năm 976, quê ở Hồng Châu (ngày nay gọi là tỉnh Hải Dương và Hưng Yên), được quan cai hạt tiến vào cung. Hải Dương và Hưng Yên nằm giữa vùng châu thổ sông Hồng, đông dân, giàu của, phát triển sớm từ thời bình minh dựng nước, xóm làng trù phú, đồng ruộng thẳng cánh cò bay Sử sách Việt Nam còn ghi chép, bà Phạm Thị Trân sống vào thời Đinh Tiên Hoàng và Tiền Lê (Lê Hoàn). Là người phụ nữ nhan sắc, lại có tài múa, và làm trò nổi tiếng một thời ở Hồng Châu. Hồng Châu thời Đinh đã từng có tập tục xem ca hát, múa, và làm trò đã có nhiều đào kép như bà Phạm Thị Trân nhưng không giỏi bằng bà, không nổi tiếng như bà.

Bà luôn giữ vai trò chủ chốt trong các nhóm, các đoàn đi múa hát và làm trò thời đó. Lời ca tiếng hát của bà được các quan khách và người dân lao động hết lời ca ngợi, người xem bà múa hát đã thốt thành thơ: Múa hát như muốn hát bàn đào Hát giục mây bay, giục gió ào Tiếng hát kinh hồn quân bạc ác Lời than làm nhỏ lệ đồng bào Vua Đinh Tiên Hoàng đã cho mời bà về Hoa Lư (kinh đô của Việt Nam lúc đó) và phong cho bà chức ưu Bà. Khi vào cung, nhà vua không lưu bà ở lại trong cung múa hát mà lại giao cho bà chịu trách nhiệm dạy quân lính múa hát, đánh trống, gẩy đàn, diễn các tích trò, lúc đó gọi là hát trò nhời hay gọi là hát chèo. Lời ca của bà mang tinh thần thượng võ yêu nước: Chinh tòng chinh, chinh tòng chinh Bất diệt thù hề, bất nguyện sinh.

Sinh viên Lê Thị Oanh – VH 1101 5 Thực trạng và giải pháp khai thác nghệ thuật chèo Hải Dương phục vụ phát triển du lịch Trong sách “Đả cố lục” còn ghi lại: cách rước trống chèo nhà Đinh của bà Phạm Thị Trân đã có sức cổ vũ lớn đối với tinh thần chiến đấu của quân sĩ. Nghệ thuật hát chèo manh nha từ thời đó. Cả vùng quê rộng lớn Hải Dương, Hưng Yên phát triển hát chèo. Cũng chính nơi đây sau này đã cung cấp cho ngành hát chèo Việt Nam những nghệ nhân ưu tú, tài ba và góp phần truyền thụ cho thế hệ sau thừa kế một nền nghệ thuật dân tộc độc đáo đã đi vào đời sống của nhân dân Việt Nam hàng ngàn năm nay.

Ngày nay vào dịp tháng giêng, tháng hai sau vụ gặt lúa, nhân dân vùng Hải Dương, Hưng Yên lại tổ chức hội làng, trong đó hát chèo giữ một vai trò quan trọng, là linh hồn không thể thiếu của ngày hội. Khi bà mất, nhân dân Hải Dương và Hưng Yên đã tôn bà là Bà tổ của nghề hát chèo. Trong các nhà thờ, chùa của các làng bài vị thờ bà thường đặt chính giữa. Hàng năm cứ đến ngày 18/2 âm lịch, nhân dân Hải Dương và Hưng Yên lại tổ chức giỗ bà Phạm Thị Trân - bà tổ của nghề hát chèo.

Tại đền thờ vua Đinh ở cố đô Hoa Lư, Ninh Bình, bà Phạm Thị Trân được phối thờ như một vị tổ nhân thần trong đền thiêng dưới bệ rồng của Thánh minh Hoàng đế nhà Đinh. Sở văn hóa thông tin Ninh Bình dưới sự chỉ đạo của ông Nguyễn Đăng Thanh, giám đốc Sở, đã xin chân nhang và lập bàn thờ vị tổ Chèo Phạm Thị Trân tại một ngôi miếu nhỏ cạnh nhà văn hóa trung tâm của tỉnh Ninh Bình, quanh năm hương khói. Các đoàn nghệ thuật về biểu diễn tại nhà văn hóa trung tâm Ninh Binh không quên tới thắp hương, bái lễ vị tổ thứ nhất của nghệ thuật sân khấu Chèo.2 Lịch sử hình thành và phát triển của chèo Cho đến nay, việc xác định thời điểm ra đời của sân khấu chèo vẫn chưa thật sự thống nhất. Có nhiều ý kiến khác nhau giữa các nhà nghiên về nguồn gốc và sự hình thành của chèo, tuy nhiên có thể tổng hợp lại thành hai nhóm, hai quan niệm chính khác nhau.

Một số người cho rằng: Nói chèo ra đời nghĩa là một loại hình sân khấu ra đời thì khi đó Chèo đã đạt tới mức hoàn chỉnh một loại hình nghệ thuật sân khấu, phải có đủ các thành phần trong nghệ thuật tổng hợp này là kịch bản + âm nhạc + diễn xuất + mỹ thuật. Vở diễn đã hoàn chỉnh có tích trò, có văn, có Sinh viên Lê Thị Oanh – VH 1101 6 Thực trạng và giải pháp khai thác nghệ thuật chèo Hải Dương phục vụ phát triển du lịch nghệ. Với quan niệm đó người ta cho rằng Chèo ra đời từ thời Trần thế kỉ XIII, sau sự kiện Lý Nguyên Cát truyền cho đào kép Đại Việt Vở diễn " Tây vương mẫu hiến bàn đào" của tạp kịch đời Nguyên ( theo chính sử ghi ). Một số nhà nghiên cứu khác lại quan niệm rằng có thể xem như Chèo ra đời khi những trò diễn đầu tiên được trình diễn theo đặc trưng ngôn ngữ của chèo về làn điệu, lối diễn.cho dù còn ở mức sơ khai chưa hoàn chỉnh.

Với quan niệm đó, người ta cho rằng chèo ra đời từ thời Đinh mà hình thức sơ khai ban đầu là những trò diễn kết hợp trò nhại và múa hát dân gian được Chèo hóa còn dấu tích là khổ trống lưu không trong quân ngũ thời Đinh được nghi bằng phép hài thanh ở sách "Đả cổ lục" và đoạn nghi về huyền nữ Phạm Thị Trân trong "Hý phường phả lục." Và tiếp nữa là văn bia tháp “Sùng thiện diên linh”. Đa số các nhà nghiên cứu chèo tán thành quan niệm của nhóm thứ hai mà người thủ xướng là phó giáo sư Hà Văn Cầu từ năm 1964 khi ông còn là một cán bộ của Ban nghiên cứu Chèo Trung ương. Vì tán đồng ý kiến cho rằng chèo ra đời từ thời Đinh cho nên các nhà nghiên cứu mới cho rằng chèo đã có một nghìn năm lịch sử. Suốt từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX sử sách ghi chép vô cùng ít ỏi về sân khấu dân tộc.

Bởi vì các sử gia, học giả, phải quan tâm đến những sự kiện trọng đại của quốc gia qua bao biến thiên thăng trầm của lịch sử, bao sự đổi thay chế độ chính trị xã hội, bao chuyện tày đình tác động đến chuyện sống còn của dân tộc, số phận của trăm họ, muôn dân. Mặt khác trong quan niệm chính thống của người xưa, nghề xướng ca, kẻ làm nghề xướng ca còn bị coi khinh, không được xếp hạng vào thang thứ bậc trong các đẳng cấp trong xã hội phong kiến, cho nên các học giả, sử gia càng ít lưu tâm. Có thể xem như suốt từ thời Đinh cho đến cuối đời Trần ( khoảng 300 năm) Chèo mới ở thời kì sơ khai, chưa có vở diễn dài hoàn chỉnh. Hình thức phôi thai của Chèo là những trò diễn được các nhà nghiên cứu gọi chung là "trò nhại".

Trò nhại tức là những trò diễn bắt chước cử chỉ hành vi thể hiện những đức tính tốt đẹp, công lao của các vị thần( trong dịp tế lễ, hội làng) hay Sinh viên Lê Thị Oanh – VH 1101 7 Thực trạng và giải pháp khai thác nghệ thuật chèo Hải Dương phục vụ phát triển du lịch của một vị hào phú( trong dịp giỗ tết, khao vọng do con cháu họ thuê đào kép sắm vai). Các "trò nhại" này có sử dụng các làn điệu hát, khuôn múa mà sau này dần dần phát triển thành các điệu Chèo. Theo nhiều nhà nghiên cứu thì khoảng cuối thế kỉ XIV mà hình thức "Chèo thuyền bản" hay "Chèo thuyền bát nhã" rồi tiến tới một vở diễn đầu tiên tương đối hoàn chỉnh của Chèo cả về tích chuyện, nhân vật, trò diễn, và hát múa dù là còn ở mức giản đơn đã ra đời đó là trò diễn " Mục Liên báo ân" còn gọi là "Huyết hồ trò" hay " Mục Liên địa tạng". Nhiều nhà nghiên cứu đã thống nhất nhận định chèo phát triển tới mức hoàn chỉnh một loại hình sân khấu vào thời Hồng Đức nhà Lê, và phát triển tới đỉnh cao, có nhiều tinh hoa độc đáo vào khoảng Lê Mạt- Nguyễn sơ rồi tiếp tục bổ xung vào thành tựu của chèo bằng sự bồi đắp thêm cho các tác phẩm tiêu biểu như Trương Viên, Lưu Bình Dương Lễ, Từ Thức, Tôn Mạnh - Tôn Trọng.

vào cuối thế kỉ XIX Cho đến đầu thế kỉ XX Chèo đã để lại một di sản khá đồ sộ về số lượng vở diễn làn điệu Chèo với những tinh hoa độc đáo như các mảnh trò Thị Màu lên chùa, Mẹ Đốp - Xã Trưởng, Súy Vân dở dại. Đầu thế kỷ 20, chèo được đưa lên sân khấu thành thị trở thành chèo văn minh. Có thêm một số vở mới ra đời dựa theo các tích truyện cổ tích, truyện Nôm như Tô Thị, Nhị Độ Mai. Đồng bằng châu thổ sông Hồng luôn là cái nôi của nền văn minh lúa nước của người Việt.

Mỗi khi vụ mùa được thu hoạch, họ lại tổ chức các lễ hội để vui chơi và cảm tạ thần thánh đã phù hộ cho vụ mùa no ấm. Nhạc cụ chủ yếu của chèo là trống chèo. Chiếc trống là một phần của văn hoá cổ Việt Nam, người nông dân thường đánh trống để cầu mưa và biểu diễn chèo.2 Đặc trƣng nghệ thuật của Chèo 1.1 Về tên gọi của Chèo và nội dung của chèo.1 Tên gọi của chèo. Chèo là biến âm của trào sau gọi chệch đi là chèo.Chèo gắn với động tác chèo thuyền tồn tại trong đời sống và trong tín ngưỡng phong tục lâu đời Sinh viên Lê Thị Oanh – VH 1101 8 Thực trạng và giải pháp khai thác nghệ thuật chèo Hải Dương phục vụ phát triển du lịch của người việt.

Chèo đi ra từ nghi lễ tôn giáo cổ xưa. Chèo là loại hình sân khấu nảy sinh phát triển từ nền ca vũ nhạc dân tộc và những sinh hoạt văn hóa dân tộc.2 Nội Dung Không giống tuồng chỉ ca tụng hành động anh hùng của các giới quyền quý, chèo còn miêu tả cuộc sống bình dị của người dân nông thôn. Nhiều vở chèo còn thể hiện cuộc sống vất vả của người phụ nữ sẵn sàng hy sinh bản thân vì người khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Giải pháp khai thác nghệ thuật chèo Hải Dương để phát triển du lịch" tập trung vào việc đề xuất các chiến lược hiệu quả nhằm tận dụng giá trị văn hóa độc đáo của nghệ thuật chèo Hải Dương để thúc đẩy ngành du lịch địa phương. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn và quảng bá di sản văn hóa, đồng thời đưa ra các giải pháp cụ thể như phát triển tour du lịch văn hóa, tổ chức các sự kiện biểu diễn chèo, và kết hợp với các dịch vụ du lịch khác để thu hút du khách. Độc giả sẽ nhận được những hiểu biết sâu sắc về cách thức kết hợp giữa văn hóa truyền thống và phát triển kinh tế du lịch, từ đó mở ra cơ hội phát triển bền vững cho địa phương.

Để mở rộng kiến thức về các mô hình phát triển du lịch dựa trên văn hóa và làng nghề, bạn có thể tham khảo bài viết Nghiên cứu điều kiện phát triển du lịch làng nghề truyền thống tại làng Chuông, Hà Nội. Nếu quan tâm đến các yếu tố ảnh hưởng đến du lịch xanh, bài viết Luận án tiến sĩ nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch xanh ở Việt Nam sẽ cung cấp thêm góc nhìn chuyên sâu. Ngoài ra, để hiểu rõ hơn về cách đánh giá tài nguyên tự nhiên phục vụ du lịch, bạn có thể đọc Luận văn thạc sĩ đánh giá tài nguyên tự nhiên thị trấn Măng Đen và phụ cận phục vụ phát triển du lịch xanh. Mỗi bài viết là một cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của ngành du lịch.