Chương 1. Khái quát chung về nghệ thuật sân khấu chèo truyền thống.Tìm hiểu nghệ thuật chèo Hải Dương. Một số giải pháp nhằm bảo tồn và khai thác hiệu quả nghệ thuật chèo Hải Dương nhằm phát triển du lịch. Sinh viên Lê Thị Oanh – VH 1101 4 Thực trạng và giải pháp khai thác nghệ thuật chèo Hải Dương phục vụ phát triển du lịch CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHỆ THUẬT SÂN KHẤU CHÈO TRUYỀN THỐNG.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Chèo.1 Câu truyện truyền thuyết về bà tổ nghề hát chèo.
Bà tổ của nghề hát chèo là bà Phạm Thị Trân, sinh năm 926, mất năm 976, quê ở Hồng Châu (ngày nay gọi là tỉnh Hải Dương và Hưng Yên), được quan cai hạt tiến vào cung. Hải Dương và Hưng Yên nằm giữa vùng châu thổ sông Hồng, đông dân, giàu của, phát triển sớm từ thời bình minh dựng nước, xóm làng trù phú, đồng ruộng thẳng cánh cò bay Sử sách Việt Nam còn ghi chép, bà Phạm Thị Trân sống vào thời Đinh Tiên Hoàng và Tiền Lê (Lê Hoàn). Là người phụ nữ nhan sắc, lại có tài múa, và làm trò nổi tiếng một thời ở Hồng Châu. Hồng Châu thời Đinh đã từng có tập tục xem ca hát, múa, và làm trò đã có nhiều đào kép như bà Phạm Thị Trân nhưng không giỏi bằng bà, không nổi tiếng như bà.
Bà luôn giữ vai trò chủ chốt trong các nhóm, các đoàn đi múa hát và làm trò thời đó. Lời ca tiếng hát của bà được các quan khách và người dân lao động hết lời ca ngợi, người xem bà múa hát đã thốt thành thơ: Múa hát như muốn hát bàn đào Hát giục mây bay, giục gió ào Tiếng hát kinh hồn quân bạc ác Lời than làm nhỏ lệ đồng bào Vua Đinh Tiên Hoàng đã cho mời bà về Hoa Lư (kinh đô của Việt Nam lúc đó) và phong cho bà chức ưu Bà. Khi vào cung, nhà vua không lưu bà ở lại trong cung múa hát mà lại giao cho bà chịu trách nhiệm dạy quân lính múa hát, đánh trống, gẩy đàn, diễn các tích trò, lúc đó gọi là hát trò nhời hay gọi là hát chèo. Lời ca của bà mang tinh thần thượng võ yêu nước: Chinh tòng chinh, chinh tòng chinh Bất diệt thù hề, bất nguyện sinh.
Sinh viên Lê Thị Oanh – VH 1101 5 Thực trạng và giải pháp khai thác nghệ thuật chèo Hải Dương phục vụ phát triển du lịch Trong sách “Đả cố lục” còn ghi lại: cách rước trống chèo nhà Đinh của bà Phạm Thị Trân đã có sức cổ vũ lớn đối với tinh thần chiến đấu của quân sĩ. Nghệ thuật hát chèo manh nha từ thời đó. Cả vùng quê rộng lớn Hải Dương, Hưng Yên phát triển hát chèo. Cũng chính nơi đây sau này đã cung cấp cho ngành hát chèo Việt Nam những nghệ nhân ưu tú, tài ba và góp phần truyền thụ cho thế hệ sau thừa kế một nền nghệ thuật dân tộc độc đáo đã đi vào đời sống của nhân dân Việt Nam hàng ngàn năm nay.
Ngày nay vào dịp tháng giêng, tháng hai sau vụ gặt lúa, nhân dân vùng Hải Dương, Hưng Yên lại tổ chức hội làng, trong đó hát chèo giữ một vai trò quan trọng, là linh hồn không thể thiếu của ngày hội. Khi bà mất, nhân dân Hải Dương và Hưng Yên đã tôn bà là Bà tổ của nghề hát chèo. Trong các nhà thờ, chùa của các làng bài vị thờ bà thường đặt chính giữa. Hàng năm cứ đến ngày 18/2 âm lịch, nhân dân Hải Dương và Hưng Yên lại tổ chức giỗ bà Phạm Thị Trân - bà tổ của nghề hát chèo.
Tại đền thờ vua Đinh ở cố đô Hoa Lư, Ninh Bình, bà Phạm Thị Trân được phối thờ như một vị tổ nhân thần trong đền thiêng dưới bệ rồng của Thánh minh Hoàng đế nhà Đinh. Sở văn hóa thông tin Ninh Bình dưới sự chỉ đạo của ông Nguyễn Đăng Thanh, giám đốc Sở, đã xin chân nhang và lập bàn thờ vị tổ Chèo Phạm Thị Trân tại một ngôi miếu nhỏ cạnh nhà văn hóa trung tâm của tỉnh Ninh Bình, quanh năm hương khói. Các đoàn nghệ thuật về biểu diễn tại nhà văn hóa trung tâm Ninh Binh không quên tới thắp hương, bái lễ vị tổ thứ nhất của nghệ thuật sân khấu Chèo.2 Lịch sử hình thành và phát triển của chèo Cho đến nay, việc xác định thời điểm ra đời của sân khấu chèo vẫn chưa thật sự thống nhất. Có nhiều ý kiến khác nhau giữa các nhà nghiên về nguồn gốc và sự hình thành của chèo, tuy nhiên có thể tổng hợp lại thành hai nhóm, hai quan niệm chính khác nhau.
Một số người cho rằng: Nói chèo ra đời nghĩa là một loại hình sân khấu ra đời thì khi đó Chèo đã đạt tới mức hoàn chỉnh một loại hình nghệ thuật sân khấu, phải có đủ các thành phần trong nghệ thuật tổng hợp này là kịch bản + âm nhạc + diễn xuất + mỹ thuật. Vở diễn đã hoàn chỉnh có tích trò, có văn, có Sinh viên Lê Thị Oanh – VH 1101 6 Thực trạng và giải pháp khai thác nghệ thuật chèo Hải Dương phục vụ phát triển du lịch nghệ. Với quan niệm đó người ta cho rằng Chèo ra đời từ thời Trần thế kỉ XIII, sau sự kiện Lý Nguyên Cát truyền cho đào kép Đại Việt Vở diễn " Tây vương mẫu hiến bàn đào" của tạp kịch đời Nguyên ( theo chính sử ghi ). Một số nhà nghiên cứu khác lại quan niệm rằng có thể xem như Chèo ra đời khi những trò diễn đầu tiên được trình diễn theo đặc trưng ngôn ngữ của chèo về làn điệu, lối diễn.cho dù còn ở mức sơ khai chưa hoàn chỉnh.
Với quan niệm đó, người ta cho rằng chèo ra đời từ thời Đinh mà hình thức sơ khai ban đầu là những trò diễn kết hợp trò nhại và múa hát dân gian được Chèo hóa còn dấu tích là khổ trống lưu không trong quân ngũ thời Đinh được nghi bằng phép hài thanh ở sách "Đả cổ lục" và đoạn nghi về huyền nữ Phạm Thị Trân trong "Hý phường phả lục." Và tiếp nữa là văn bia tháp “Sùng thiện diên linh”. Đa số các nhà nghiên cứu chèo tán thành quan niệm của nhóm thứ hai mà người thủ xướng là phó giáo sư Hà Văn Cầu từ năm 1964 khi ông còn là một cán bộ của Ban nghiên cứu Chèo Trung ương. Vì tán đồng ý kiến cho rằng chèo ra đời từ thời Đinh cho nên các nhà nghiên cứu mới cho rằng chèo đã có một nghìn năm lịch sử. Suốt từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX sử sách ghi chép vô cùng ít ỏi về sân khấu dân tộc.
Bởi vì các sử gia, học giả, phải quan tâm đến những sự kiện trọng đại của quốc gia qua bao biến thiên thăng trầm của lịch sử, bao sự đổi thay chế độ chính trị xã hội, bao chuyện tày đình tác động đến chuyện sống còn của dân tộc, số phận của trăm họ, muôn dân. Mặt khác trong quan niệm chính thống của người xưa, nghề xướng ca, kẻ làm nghề xướng ca còn bị coi khinh, không được xếp hạng vào thang thứ bậc trong các đẳng cấp trong xã hội phong kiến, cho nên các học giả, sử gia càng ít lưu tâm. Có thể xem như suốt từ thời Đinh cho đến cuối đời Trần ( khoảng 300 năm) Chèo mới ở thời kì sơ khai, chưa có vở diễn dài hoàn chỉnh. Hình thức phôi thai của Chèo là những trò diễn được các nhà nghiên cứu gọi chung là "trò nhại".
Trò nhại tức là những trò diễn bắt chước cử chỉ hành vi thể hiện những đức tính tốt đẹp, công lao của các vị thần( trong dịp tế lễ, hội làng) hay Sinh viên Lê Thị Oanh – VH 1101 7 Thực trạng và giải pháp khai thác nghệ thuật chèo Hải Dương phục vụ phát triển du lịch của một vị hào phú( trong dịp giỗ tết, khao vọng do con cháu họ thuê đào kép sắm vai). Các "trò nhại" này có sử dụng các làn điệu hát, khuôn múa mà sau này dần dần phát triển thành các điệu Chèo. Theo nhiều nhà nghiên cứu thì khoảng cuối thế kỉ XIV mà hình thức "Chèo thuyền bản" hay "Chèo thuyền bát nhã" rồi tiến tới một vở diễn đầu tiên tương đối hoàn chỉnh của Chèo cả về tích chuyện, nhân vật, trò diễn, và hát múa dù là còn ở mức giản đơn đã ra đời đó là trò diễn " Mục Liên báo ân" còn gọi là "Huyết hồ trò" hay " Mục Liên địa tạng". Nhiều nhà nghiên cứu đã thống nhất nhận định chèo phát triển tới mức hoàn chỉnh một loại hình sân khấu vào thời Hồng Đức nhà Lê, và phát triển tới đỉnh cao, có nhiều tinh hoa độc đáo vào khoảng Lê Mạt- Nguyễn sơ rồi tiếp tục bổ xung vào thành tựu của chèo bằng sự bồi đắp thêm cho các tác phẩm tiêu biểu như Trương Viên, Lưu Bình Dương Lễ, Từ Thức, Tôn Mạnh - Tôn Trọng.
vào cuối thế kỉ XIX Cho đến đầu thế kỉ XX Chèo đã để lại một di sản khá đồ sộ về số lượng vở diễn làn điệu Chèo với những tinh hoa độc đáo như các mảnh trò Thị Màu lên chùa, Mẹ Đốp - Xã Trưởng, Súy Vân dở dại. Đầu thế kỷ 20, chèo được đưa lên sân khấu thành thị trở thành chèo văn minh. Có thêm một số vở mới ra đời dựa theo các tích truyện cổ tích, truyện Nôm như Tô Thị, Nhị Độ Mai. Đồng bằng châu thổ sông Hồng luôn là cái nôi của nền văn minh lúa nước của người Việt.
Mỗi khi vụ mùa được thu hoạch, họ lại tổ chức các lễ hội để vui chơi và cảm tạ thần thánh đã phù hộ cho vụ mùa no ấm. Nhạc cụ chủ yếu của chèo là trống chèo. Chiếc trống là một phần của văn hoá cổ Việt Nam, người nông dân thường đánh trống để cầu mưa và biểu diễn chèo.2 Đặc trƣng nghệ thuật của Chèo 1.1 Về tên gọi của Chèo và nội dung của chèo.1 Tên gọi của chèo. Chèo là biến âm của trào sau gọi chệch đi là chèo.Chèo gắn với động tác chèo thuyền tồn tại trong đời sống và trong tín ngưỡng phong tục lâu đời Sinh viên Lê Thị Oanh – VH 1101 8 Thực trạng và giải pháp khai thác nghệ thuật chèo Hải Dương phục vụ phát triển du lịch của người việt.
Chèo đi ra từ nghi lễ tôn giáo cổ xưa. Chèo là loại hình sân khấu nảy sinh phát triển từ nền ca vũ nhạc dân tộc và những sinh hoạt văn hóa dân tộc.2 Nội Dung Không giống tuồng chỉ ca tụng hành động anh hùng của các giới quyền quý, chèo còn miêu tả cuộc sống bình dị của người dân nông thôn. Nhiều vở chèo còn thể hiện cuộc sống vất vả của người phụ nữ sẵn sàng hy sinh bản thân vì người khác.