Vận Dụng Mô Hình Blended Learning Để Phát Triển Năng Lực Tự Học Trong Dạy Học Hóa Học Hữu Cơ Lớp 11

Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng mô hình blended learning trong dạy học hóa học hữu cơ lớp 11, phát triển năng lực tự học cho học sinh.

Chuyên ngành

Hóa Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2022

253
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về mô hình Blended Learning trong dạy học Hóa học hữu cơ

Mô hình Blended Learning (học tập kết hợp) đang trở thành xu hướng trong giáo dục hiện đại. Mô hình này kết hợp giữa dạy học trực tiếp và dạy học trực tuyến, giúp học sinh phát triển năng lực tự học. Đặc biệt, trong dạy học môn Hóa học hữu cơ lớp 11, mô hình này mang lại nhiều lợi ích cho việc tiếp thu kiến thức và phát triển kỹ năng cho học sinh. Việc áp dụng mô hình này không chỉ giúp học sinh tiếp cận kiến thức một cách linh hoạt mà còn khuyến khích sự chủ động trong học tập.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của Blended Learning

Mô hình Blended Learning là sự kết hợp giữa dạy học truyền thống và dạy học trực tuyến. Đặc điểm nổi bật của mô hình này là tính linh hoạt trong việc tổ chức học tập, cho phép học sinh học mọi lúc, mọi nơi.

1.2. Lợi ích của Blended Learning trong dạy học Hóa học

Mô hình này giúp học sinh phát triển năng lực tự học, tăng cường khả năng tương tác với giáo viên và bạn học, đồng thời tạo ra môi trường học tập tích cực và sáng tạo.

II. Thách thức trong việc áp dụng Blended Learning vào dạy học Hóa học hữu cơ

Mặc dù Blended Learning mang lại nhiều lợi ích, nhưng việc áp dụng mô hình này cũng gặp phải một số thách thức. Đầu tiên, không phải tất cả học sinh đều có khả năng tự học tốt. Thứ hai, giáo viên cần có kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin để thiết kế bài giảng hiệu quả. Cuối cùng, việc quản lý thời gian và tài nguyên học tập cũng là một vấn đề cần được giải quyết.

2.1. Khó khăn trong việc phát triển năng lực tự học của học sinh

Nhiều học sinh vẫn còn thụ động trong việc học, chưa biết cách tự tìm kiếm tài liệu và tổ chức thời gian học tập hợp lý.

2.2. Yêu cầu về kỹ năng công nghệ của giáo viên

Giáo viên cần được đào tạo về công nghệ thông tin để có thể thiết kế và triển khai các hoạt động học tập trực tuyến hiệu quả.

III. Phương pháp vận dụng mô hình Blended Learning trong dạy học Hóa học hữu cơ

Để áp dụng Blended Learning hiệu quả trong dạy học Hóa học hữu cơ, cần có các phương pháp cụ thể. Một trong những phương pháp hiệu quả là mô hình lớp học đảo ngược, nơi học sinh tự học trước ở nhà và thực hành trên lớp. Ngoài ra, việc sử dụng các dự án học tập cũng giúp học sinh phát triển kỹ năng làm việc nhóm và giải quyết vấn đề.

3.1. Mô hình lớp học đảo ngược trong dạy học Hóa học

Mô hình lớp học đảo ngược cho phép học sinh tiếp cận kiến thức trước khi đến lớp, từ đó có thể tham gia thảo luận và thực hành hiệu quả hơn.

3.2. Dạy học dự án trong Hóa học hữu cơ

Dạy học dự án giúp học sinh áp dụng kiến thức vào thực tiễn, từ đó phát triển năng lực tự học và khả năng làm việc nhóm.

IV. Ứng dụng thực tiễn của Blended Learning trong dạy học Hóa học hữu cơ lớp 11

Việc áp dụng Blended Learning trong dạy học Hóa học hữu cơ lớp 11 đã cho thấy những kết quả tích cực. Học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức tốt hơn mà còn phát triển được nhiều kỹ năng mềm. Các hoạt động học tập trực tuyến đã giúp học sinh chủ động hơn trong việc tìm kiếm thông tin và giải quyết vấn đề.

4.1. Kết quả khảo sát về năng lực tự học của học sinh

Kết quả khảo sát cho thấy học sinh có sự cải thiện rõ rệt về năng lực tự học sau khi áp dụng mô hình Blended Learning.

4.2. Phản hồi từ giáo viên và học sinh

Giáo viên và học sinh đều đánh giá cao mô hình này, cho rằng nó giúp tăng cường sự tương tác và hứng thú trong học tập.

V. Kết luận và triển vọng của mô hình Blended Learning trong giáo dục

Mô hình Blended Learning đang mở ra nhiều cơ hội cho việc đổi mới phương pháp dạy học trong giáo dục. Đặc biệt, trong dạy học Hóa học hữu cơ, mô hình này không chỉ giúp học sinh phát triển năng lực tự học mà còn nâng cao chất lượng giáo dục. Triển vọng trong tương lai là tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp dạy học kết hợp để đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh.

5.1. Tương lai của Blended Learning trong giáo dục

Mô hình này dự kiến sẽ trở thành xu hướng chủ đạo trong giáo dục, đặc biệt là trong bối cảnh công nghệ ngày càng phát triển.

5.2. Khuyến nghị cho giáo viên và nhà quản lý

Cần có các chương trình đào tạo cho giáo viên về công nghệ thông tin và phương pháp dạy học tích cực để nâng cao hiệu quả giảng dạy.

16/07/2025
Luận án tiến sĩ vận dụng mô h̀nh blended learning trong dạy học phần hóa học hữu cơ lớp 11 nhằm ph́t triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ VẬN DỤNG MÔ HÌNH BLENDED LEARNING PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về vận dụng blended learning trong dạy học Sự phát triển mạnh mẽ của ICT thế kỷ XXI đã tạo cho mô hình DH truyền thống có nhiều biến đổi tích cực, ICT đặc biệt là internet và công nghệ web không chỉ đơn giản là cầu nối giữa GV, HS với nội dung DH mà đã trở thành một thành tố quan trọng của quá trình giáo dục hiện đại. DH trực tuyến đã phát triển mạnh mẽ và mang lại hiệu quả nhất định ở nhiều quốc gia, song chưa thể thay thế hoàn toàn cho DH trực tiếp trên lớp học truyền thống.

Sikora [104] chỉ ra rằng người học ít hài lòng với các khóa học trực tuyến khác với các khóa học truyền thống và cần kết hợp thống nhất chúng để khai thác lợi thế của cả hai. Do đó, BL ra đời như là sự phát triển tất yếu, Hội đồng DH trực tuyến Bắc Mĩ iNACOL (North American Council for Online Learning) nay là Viện Aurora dự báo: “BL sẽ là mô hình DH chủ đạo trong tương lai, BL cần được nhìn nhận như một cách tiếp cận sư phạm, tích hợp được tính hiệu quả và các cơ hội xã hội trong lớp học với các khả năng thúc đẩy việc học tập tích cực có sự hỗ trợ của công nghệ trong môi trường trực tuyến chứ không chỉ thuần túy là cách DH” [116]. Trên thế giới, các nghiên cứu về BL bắt đầu bùng nổ từ những năm cuối thế kỉ XX, đầu thế kỷ XXI. Có nhiều cuốn sách tập hợp các bài viết cả về lý luận và thực tiễn vận dụng BL của nhiều tác giả đã được xuất bản như: The handbook of blended learning: Global perspectives, localdesigns; Handbook of blended learning environment; Blended Learning in Higher Education: Framework, Principles and Guidelines; Practical Applications and Experiences in K-20 Blended Learning Environments; Effective Blended Learning Practices: Evidence-Based Perspectives in ICT….

Định nghĩa về BL được đưa ra trong các ngữ cảnh khác nhau bởi: Bonk, Olson, Wisher, & Orvis (2002); Lim, Morris, & Kupritz (2007); Garrison và Vaughan (2008); Lin (2008),… tuy nhiên, một định nghĩa chung và chính xác về BL vẫn chưa được xác định rõ ràng và không dễ để mô tả [111]. Cách tiếp cận phổ biến nhất trong định nghĩa về BL là chỉ sự kết hợp các nội dung và hướng dẫn trực tiếp với trực tuyến 6 thông qua các kỹ thuật, công cụ DH dựa trên web. Carman (2005) [68] đã phân tích năm yếu tố quan trọng của một quá trình BL. Các mô hình BL cũng được đưa ra bởi Intel (2012) [79] và Staker H.

Osguthohe & Graham (2003) [94] phân tích 6 lí do để lựa chọn thiết kế và sử dụng BL. Sự “ảo hóa” DH khắc phục được các hạn chế về thời gian và không gian của lớp học, giảm chi phí đi lại, cơ sở vật chất và chi trả cho GV [83]. Tuy nhiên, hiệu quả của BL cũng chịu ảnh hưởng không chỉ của yếu tố CNTT mà còn của các yếu tố khác như: hoạt động của các bên liên quan (người dạy, người tổ chức, cơ quan quản lý,…), kỹ năng và các yếu tố của người học (động lực, kỹ năng TH và tự quản lý,…), văn hoá (định hướng, nguyên tắc giảng dạy, hỗ trợ học tập của cơ sở đào tạo…) và các nguồn lực tài chính dành cho thiết kế và triển khai BL [81], [98]. Các cấp độ và mức độ kết hợp của BL được đề xuất bởi Graham C.

Quy luật và xu thế vận động, phát triển của BL trong tương lai cũng được dự đoán bởi Graham C. Mô hình sự phát triển của dạy học kết hợp [97] Từ những năm 2000, mô hình BL đã được vận dụng ở nhiều nước Bắc Mỹ, Tây Âu, Châu Á và Châu Đại Dương [63], đã có nhiều nghiên cứu vận dụng BL trong thực tiễn giáo dục ở các cấp học của nhà trường và đào tạo nhân lực của các công ty. Theo thống kê của Bộ Giáo dục Mỹ trong giai đoạn từ 1996 - 2008 có 1132 bài nghiên 7 cứu về kết quả học tập của học sinh, sinh viên trong hình thức học tập trực tuyến và kết hợp [112], đã có 45,9% cơ sở giáo dục đại học tại Mỹ (tính tới năm 2004) có sử dụng hình thức đào tạo này và xu thế vẫn tiếp tục gia tăng [91]. Nhiều hệ thống BL đã được hoàn chỉnh và vận dụng hiệu quả ở các trường đại học của các quốc gia như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia, Singapore, Úc, Canada, Mỹ, Mexico, Israel, Anh và Nam Mỹ [97], nổi bật là Đại học Griffith (Úc), Đại học Concepción (Chile), Đại học Frolida, Brigham Young, Wisconsin (Mỹ),… , nhiều nghiên cứu đã cho thấy những kết quả khả quan và tích cực của BL đối với nhận thức và kết quả học tập của người học [73], [76], [114].

Với giáo dục phổ thông, các khóa học BL K-12 ở Mỹ đã tăng lên đáng kể (số HS ghi danh đã đạt 5 đến 6 triệu tính đến 2016). Means, Toyama, Murphy, Bakia, Jones (2010) [88] đã tổng hợp 46 nghiên cứu thực nghiệm và kết luận rằng BL mang lại hiệu quả học tập và tạo ra sự khác biệt lớn về kết quả học tập của người học so với dạy học theo kiểu giáp mặt. Sau đó, BL đang mở rộng trên toàn thế giới (Barbour và Kennedy, 2014) [64], nhất là ở Canada, Ấn Độ, New Zealand, Hàn Quốc và hầu hết các quốc gia châu Âu. Nhiều tiến trình dạy học BL được đề xuất [94], [87].

Hiệu quả của BL trong DH cho HS phổ thông được chỉ ra trong nhiều nghiên cứu như: Yapici I. (2012) [117] chỉ ra hiệu quả của BL đến thành tích học tập môn Sinh học của HS trung học; Fazal M. (2019) [71] chỉ ra tác động tích cực của việc trải nghiệm BL đến thành tích và thái độ học tập HS trong môn Toán; Utami I. (2018) [113] chỉ ra học tập kết hợp đã gia tăng đáng kể thành tích học tập của HS Trung học trong khóa học về CNTT và truyền thông; Zain A.

(2018) [118] chỉ ra hiệu quả của BL trong cải thiện tư duy phản biện của HS trong dạy học môn Vật lí; Alsalhi N. (2019) [62] chỉ ra BL đã nâng cao thành tích học tập và giúp HS có thái độ tích cực hơn trong học tập môn Khoa học lớp 9; Rafiola R. (2020) [97] chỉ ra tác động tích cực của động lực học tập, sự tự tin và việc học tập kết hợp đến thành tích học tập của HS Trung học công lập,…. Đặc biệt, các nghiên cứu của Schultz D.

(2018) [108] đã chỉ ra tác động tích cực của mô hình lớp học đảo ngược 8 (một trong các mô hình BL) đến thái độ và kết quả học tập môn Hóa học của HS; Hadisaputra S. (2020) [77] đã chỉ ra hiệu quả phát triển kĩ năng tư duy phản biện của HS thông qua DH hóa học theo mô hình BL. Như vậy, BL đã và đang là xu hướng giáo dục mới và một hướng nghiên cứu mới của các nhà khoa học giáo dục trên thế giới, các nghiên cứu khá đa dạng ở mức độ khác nhau đã làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản của BL (định nghĩa, đặc điểm, yếu tố, lợi ích, xu hướng tương lai,… ) và đánh giá kết quả vận dụng BL trong thực tiễn DH ở cả cấp đại học và phổ thông. Các nghiên cứu đều đưa ra các nhận định khá thống nhất về hiệu quả tích cực của BL đối với nhận thức và kết quả học tập của người học, tuy nhiên để phù hợp với từng đối tượng và điều kiện học tập sẽ cần phải có những mô hình BL cụ thể khác nhau.

Ở Việt Nam, Hội thảo “Ứng dụng công nghệ thông tin trong học tập hỗn hợp đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông mới” do ĐH Giáo dục (ĐH Quốc gia Hà Nội) và trường Phổ thông liên cấp Olympia tổ chức tháng 12 năm 2015 được coi là hội thảo chính thức đầu tiên bàn về BL ở Việt Nam. Hội thảo đã góp phần làm rõ khái niệm, thế mạnh của BL và các biện pháp triển khai BL ở Việt Nam và có một số kinh nghiệm ban đầu về thiết kế khóa học BL, bài giảng, PPDH, đánh giá,…. Nguyễn Danh Nam [40] đã đưa ra định nghĩa và đề xuất 3 mức độ kết hợp trong BL. Tô Nguyên Cương [11] chỉ ra sự xuất hiện một số ưu điểm nổi trội của BL.

Trần Huy Hoàng, Nguyễn Kim Đào [20] đã phân tích khái niệm, đặc điểm, cấu trúc và chỉ ra các vai trò của BL đối với đổi mới PPDH đồng thời đưa ra 4 giai đoạn của một quy trình BL. Lê Công Triêm, Lê Thanh Huy, Nguyễn Đình Hoa Cương làm rõ vai trò của GV trong dạy học BL là người định hướng, chỉ dẫn, hỗ trợ và là huấn luyện viên, trọng tài [56]. Tôn Quang Cường, Phạm Kim Chung [12] đã đưa ra các bước xây dựng kế hoạch dạy học BL và chỉ ra những hoạt động cơ bản của GV, HS ở trên lớp, trên mạng trong DH GQVĐ, DH trải nghiệm, DH dự án. Nguyễn Hoàng Trang và cộng sự đề xuất một số phương án tổ chức dạy học kết hợp ở trường THPT [55].

Nguyễn Thế Dũng [15] chỉ ra các ưu nhược điểm, 3 bước thiết kế và các khó khăn khi dạy học theo mô hình BL (lớp học đảo ngược) là theo dõi quá trình HS TH ở nhà (1), HS cần có khả năng TH (2), GV phải có kế hoạch cho cả năm học khi áp dụng mô hình này (3). Nguyễn Hoàng Trang, Mai Văn Hưng, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh 9 [54] cũng chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong việc triển khai BL, từ đó đề xuất một số giải pháp triển khai BL hiệu quả. Trần Kim Huệ, Nguyễn Thị Kim Oanh [25] đề xuất 6 nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhằm thiết kế khóa học theo mô hình BL. Nguyễn Văn Hiền [18], Thái Hoài Minh [39], Hà Thị Hương [29] đã nghiên cứu vận dụng mô hình BL trong DH cho sinh viên ở các trường đại học, Ngô Trọng Tuệ [58] đã nghiên cứu vận dụng BL vào dạy học Vật lý ở trường THPT.

Ngoài ra còn có một số bài báo đã đề xuất và chỉ ra hiệu quả vận dụng BL trong DH các môn Vật lý [19], [21], [31]; Sinh học [24]; Hóa học [13], [14], [53]; Địa lý [46]; Văn học [1]; Giáo dục công dân [35],…. Như vậy, BL bước đầu đã được quan tâm ở nước ta song vẫn còn là mô hình mới mẻ và việc áp dụng mô hình này còn hạn chế do nhiều yếu tố.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu với tiêu đề "Vận Dụng Mô Hình Blended Learning Trong Dạy Học Hóa Học Hữu Cơ Lớp 11" khám phá cách thức áp dụng mô hình học tập kết hợp (blended learning) trong giảng dạy môn Hóa học hữu cơ cho học sinh lớp 11. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp giữa học trực tiếp và học trực tuyến, giúp nâng cao hiệu quả học tập và tạo điều kiện cho học sinh phát triển kỹ năng tự học.

Một trong những lợi ích chính của mô hình này là khả năng cá nhân hóa quá trình học tập, cho phép học sinh tiếp cận kiến thức theo cách phù hợp nhất với mình. Điều này không chỉ giúp tăng cường sự hứng thú trong học tập mà còn cải thiện kết quả học tập của học sinh.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp dạy học hiện đại, bạn có thể tham khảo tài liệu Khóa luận vận dụng phương pháp dạy học theo góc phần hoá học hữu cơ lớp 11 trung học phổ thông theo quan điểm dạy học phân hoá, nơi trình bày các phương pháp dạy học phân hóa trong môn Hóa học.

Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ vận dụng dạy học theo nhóm nhỏ trong giảng dạy môn kỹ năng sống tại trường cao đẳng công nghệ và quản trị sonadezi tỉnh đồng nai cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc áp dụng phương pháp dạy học nhóm nhỏ, một kỹ thuật có thể kết hợp hiệu quả với mô hình blended learning.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp dạy học hiện đại, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập.