CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở ngôn ngữ 1. Lý thuyết trường nghĩa 1. Quan niện về trường nghĩa Trong hệ thống, ở một trạng thái tĩnh, các đơn vị từ vựng không tồn tại tách biệt, rời nhau mà luôn có những mối quan hệ nhất định.
Điều đó làm cho từ vựng không thuần túy chỉ là tập hợp ngẫu nhiên các từ và đơn vị tương đương với từ mà còn là một hệ thống với các mối quan hệ nhất định. Để nghiên cứu về tính hệ thống và cấu trúc của ngôn ngữ, lý thuyết về trường nghĩa đã ra đời, mang lại những luồng sinh khí mới cho ngôn ngữ học hiện đại trong hoạt động hành chức. Lý thuyết về trường nghĩa bắt đầu được hình thành từ những tiền đề lý thuyết: Từ những tư tưởng về mối quan hệ giữa các từ trong ngôn ngữ đã được nhà bác học người Nga M. Tuy nhiên, khái niệm về trường và lý thuyết về trường ngữ nghiã chỉ thực sự tiến hành nghiên cứu từ những năm 1920 và 1930 của thế kỷ XX, bắt nguồn từ những lý thuyết ngôn ngữ học của W.Humboldt và Fde Saussure.
Lý thuyết về các trường từ vựng gắn với tên tuổi các nhà nghiên cứu như: A Jolles (1943), G.Ipsen (1924), J Trier (1934), WPorizig (1934)…Tư tưởng cơ bản của những lý thuyết này là sự khảo sát từ vựng một cách có hệ thống. Lý thuyết trường nghĩa được giới thiệu vào Việt Nam từ những năm 1970 của thế kỷ thứ XX. Đến nay nó vẫn được coi là mô hình nghiên cứu ưu thắng của ngữ nghĩa học cấu trúc và miêu tả. Trên cơ sở tiếp thu thành tựu của các nhà ngôn ngữ học nước ngoài, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã đề cập đến vấn đề TN: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Mai Ngọc Chừ,vv… Đỗ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hữu Châu trong bài viết Khái niệm “trường” và việc nghiên cứu hệ thống từ vựng đăng trên tạp chí Ngôn ngữ số 2 năm 1976 có viết: “Trường từ vựng là một tập hợp các đơn vị từ vựng căn cứ vào một nét đồng nhất nào đó về ngữ nghĩa” và trong cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt (NXB GD 1999) ông cũng làm rõ thêm khái niệm này “Một tiểu hệ thống ngữ nghĩa được gọi là một trường nghĩa, đó là tập hợp những từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa”.
Đồng quan điểm này với Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng – tác giả cuốn Ngữ nghĩa học (NXB Đại học Sư phạm 2014) cũng khẳng định: Các từ đồng nhất về nghĩa được tập trung thành các nhóm được gọi là trường nghĩa (hay là trường từ vựng hoặc trường từ vựng- ngữ nghĩa) [21 –tr.186] Tóm lại, quan niệm về trường nghĩa của các nhà ngôn ngữ có thể không giống nhau, tuy nhiên có thể hiểu Trường nghĩa là một tập hợp bao gồm các từ có chung với nhau ít nhất là một nét nghĩa. Tiêu chí để xác lập trường nghĩa là nghĩa của từ. Việc phân lập hệ thống từ vựng của một ngôn ngữ thành các trường nhỏ dù có dựa vào các tiêu chí nào chăng nữa cũng không thể không bắt đầu từ tiêu chí ngữ nghĩa ấy. Phân loại trường nghĩa * Tiêu chí xác lập trường nghĩa Theo Đỗ Hữu Châu, việc phân lập từ vựng của một ngôn ngữ thành các trường từ vựng – ngữ nghĩa nhằm mục đích phát hiện ra tính hệ thống và cấu trúc của hệ thống từ vựng về mặt ngữ nghĩa, từ đó có thể giải thích các cơ chế đồng loạt chi phối sự sáng tạo nên đơn vị và hoạt động của chúng trong quá trình sử dụng ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp.
Tác giả đã có những nhận định về tiêu chí phân lập trường nghĩa như các trường từ vựng – ngữ nghĩa là những sự kiện ngôn ngữ cho nên tiêu chí để phân lập chúng phải là tiêu chí ngôn ngữ. Cơ sở để phân lập là sự đồng nhất nào đó trong ý nghĩa biểu vật và ý nghĩa biểu niệm của các từ. Đỗ Hữu Châu nhận thấy khi đi vào trường nghĩa, giữa các từ tồn tại tình trạng thiếu đường ranh giới dứt khoát và tình trạng một từ có thể có mặt 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong một số trường nghĩa khác nhau. Tuy vậy việc phân lập trường nghĩa là rất quan trọng.
Ông đã đề ra phương thức xác lập như sau: - Tìm những trường hợp điển hình, tức là những trường hợp mang và chỉ mang các đặc trưng từ vựng – ngữ nghĩa được lấy làm cơ sở. Những từ điển hình này lập thành tâm cho trường. - Xác lập vùng ngoại vi bằng những từ có khả năng đi vào một số trường. Chúng ta sẽ dựa vào các từ điển hình để xác định một trường, sau đó chúng ta sẽ xử lý các trường hợp khó phân định nhờ cấu trúc ngữ nghĩa trong các từ điển.
Cơ sở để lập trường biểu vật không phải là nhận thức về các phạm vi sự vật trong thực tế mà là ý nghĩa biểu vật của từ. Như vậy tất cả các ý nghĩa biểu vật nào có chung một nét nghĩa biểu vật thì có thể đi vào một trường. Tuy nhiên, việc phân chia hiện thực thành những lát cắt để nghiên cứu (tức là việc phân chia trường nghĩa) mang tính chủ quan và khó thực hiện một cách triệt để bởi hiện thực thế giới khách quan là một chuỗi liên tục. Mặt khác, một từ có thể có nhiều nghĩa, có thể tham gia vào nhiều trường nghĩa khác nhau.
Tóm lại, vấn đề hệ thống tất cả các trường nghĩa trong ngôn ngữ, phân lập trường nghĩa như thế nào, các cấp độ của trường nghĩa chưa có được sự phân lập rõ ràng, mạch lạc, sự nhất trí trong giới nghiên cứu. Việc xác lập trường biểu vật một cách đầy đủ càng không phải là một việc dễ dàng. * Phân loại các trường nghĩa Dựa vào hai mối quan hệ cơ bản giữa các đơn vị đồng loại của ngôn ngữ đó là quan hệ ngang (quan hệ hình tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ đoạn) và quan hệ dọc (quan hệ trực tuyến, quan hệ hệ hình), Đỗ Hữu Châu phân chia trường nghĩa tiếng Việt thành các loại: trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm, trường nghĩa tuyến tính và trường nghĩa liên tưởng. Trường nghĩa biểu vật Trường nghĩa biểu vật là tập hợp các từ ngữ đồng nhất với nhau về nghĩa biểu vật.
Trường nghĩa biểu niệm 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trường nghĩa biểu niệm là tập hợp các từ ngữ có chung một cấu trúc nghĩa biểu niệm. Các từ cùng một trường nghĩa biểu niệm có thể khác nhau về trường nghĩa biểu vật. Trường nghĩa tuyến tính Để xác lập trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ ngữ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ. Các từ trong một trường tuyến tính là những từ thường xuất hiện với từ trung tâm trong các loại ngôn bản.
Phân tích ý nghĩa của chúng, chúng ta có thể phát hiện được những nội dung ngữ nghĩa của các quan hệ cú pháp và tính chất của các quan hệ đó. Trường nghĩa liên tưởng Các sự vật, hoạt động, tính chất. được phản ánh trong nhận thức của con người theo những mối quan hệ nhất định. Các sự vật, hiện tượng.
có quan hệ liên tưởng với nhau là các sự vật, hiện tượng mà từ một sự vật, hiện tượng này người ta nghĩ đến các sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất khác. Trường nghĩa liên tưởng là trường nghĩa tập hợp các từ biểu thị các sự vật, hiện tượng, hoạt động, tính chất. có quan hệ liên tưởng với nhau. Khác với hai trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm, trường nghĩa liên tưởng có sự khác biệt nhất định giữa các cá nhân sử dụng ngôn ngữ.
Do đó, người ta có thể xây dựng các từ điển trường nghĩa đối với các trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm nhưng khó có thể có từ điển các trường nghĩa liên tưởng vì trường nghĩa liên tưởng có tính chủ quan cao, nó phụ thuộc vào điều kiện, môi trường sống, thời đại sống, kinh nghiệm sống. của mỗi cá nhân. Có những liên tưởng có ở người này nhưng không tồn tại hoặc xa lạ đối với người khác và ngược lại. Tuy nhiên, mỗi thời đại, mỗi ngành nghề, mỗi địa phương lại có thể có một điểm liên tưởng chung nhau.
Ví dụ, cùng sự việc “ăn sáng” (điểm tâm), những người sống ở thành 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thị thường liên tưởng đến một số món nhất định khác với những người sống ở nông thôn, những người ở thời đại này liên tưởng khác với những người ở thời đại khác. Do đó, nắm được những điểm chung trong liên tưởng cho mỗi thời đại, mỗi nhóm xã hội. là điều kiện cần thiết để lí giải những hiện tượng “ý tại ngôn ngoại”, “mượn mây để tả trăng” hay các biểu tượng, biểu trưng văn học. Đọc hiểu văn bản Đọc hiểu là một hoạt động, đồng thời là mục đích tất yếu của mọi hoạt động đọc.
Đối với tác phẩm văn chương, hiểu là mục đích cuối cùng, mục đích cao nhất dù người đọc đến với văn bản bởi vất cứ động cơ nào. Trong dạy học văn, dạy đọc văn là yêu cầu đầu tiên và theo chủ trương của chương trình mới, là mục đích cuối cùng. Hoạt động giảng văn trước đây được thay bằng việc tổ chức hoạt động đọc hiểu văn bản Ngữ văn. Cần phải hiểu rằng sự thay đổi này không phải là sự thay thế hoàn toàn những nội hàm của phương pháp dạy học cho phù hợp với yêu cầu thời đại, như Trần Đình Sử đã xác nhận “vấn đề đọc hiểu là văn bản không phải hoàn toàn xa lạ đối với giáo viên văn xưa nay và không thủ tiêu yếu tố giảng văn của người giáo viên.
Nó chỉ biến người giảng văn thành người hướng dẫn đọc văn. Nó chỉ tăng cường vai trò hướng dẫn của thầy, tạo điều kiện cho học sinh tự học tập”. Đọc hiểu là hoạt động của con người, người đọc tiếp xúc với văn bản ngôn từ, giải mã ngôn từ để tìm ra lớp ý nghĩa của văn bản. Bằng oàn bộ con người tinh thần của mình bao gồm trí tuệ và tình cảm, khối óc và trái tim, người đọc sẽ khám phá được những bí ẩn tiềm tàng đằng sau hệ thống ngôn từ.
Văn bản là một tập hợp kí hiệu ngôn ngữ vô tri nhưng dưới sự tác động của người đọc nó trở thành một sinh thể nghệ thuật và tác động ngược trở lại.