Vận Dụng Lý Thuyết Liên Văn Bản Vào Dạy Học Các Tác Phẩm Thơ Mới Trong Chương Trình Ngữ Văn 11

Luận văn thạc sĩ giáo dục nghiên cứu vnu ued vận dụng lý thuyết liên văn bản vào dạy học các tác phẩm thơ mới trong chương trình ngữ văn, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Chuyên ngành

Sư Phạm Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2015

125
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Lí thuyết liên văn bản

1.2. Nguồn gốc liên văn bản

1.3. Liên văn bản và những thay đổi trong văn học

1.4. Khái niệm lý thuyết liên văn bản

1.5. Đặc trưng của liên văn bản

1.6. Các hình thức và nhiệm vụ liên văn bản

1.7. Quá trình hiện đại hóa của văn học hiện đại Việt Nam

1.8. Các giai đoạn phát triển của quá trình hiện đại hóa

1.9. Tìm hiểu chung về thơ trữ tình

1.10. Khái niệm chung về Thơ

1.11. Đặc điểm của thơ trữ tình

1.12. Khái quát về phong trào Thơ mới 1932 – 1945

1.13. Hoàn cảnh ra đời

1.14. Thơ mới – cuộc cách mạng trong thơ ca Việt Nam

1.15. Những mặt tích cực, tiến bộ của Phong trào Thơ mới

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DẠY HỌC THƠ MỚI TRONG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG VÀ VIỆC DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM THƠ MỚI THEO HƯỚNG TIẾP CẬN LIÊN VĂN BẢN

2.1. Thực trạng dạy học Văn nói chung và Thơ mới nói riêng trong trường THPT hiện nay

2.2. Thực trạng dạy học Ngữ văn trong nhà trường THPT hiện nay

2.3. Thực trạng giảng dạy thơ trữ tình trong nhà trường THPT

2.4. Tiêu chuẩn để đánh giá một giờ dạy Ngữ văn thành công

2.5. Các tác phẩm Thơ mới trong chương trình THPT

2.6. Một số giải pháp tiếp cận các tác phẩm Thơ mới trong chương trình Ngữ văn 11 theo hướng liên văn bản

2.7. Dạy học Thơ mới trong thể liên văn bản với “thơ cũ”

2.8. Dạy học Thơ mới trong thể liên văn bản với thơ ca cách mạng

2.9. Dạy học Thơ mới trong thể liên văn bản với thơ ca thế giới

2.10. Các hoạt động cụ thể của việc dạy học tác phẩm Thơ mới trong chương trình Ngữ văn 11 theo hướng liên văn bản

2.11. Xác định các hoạt động khi dạy các tác phẩm Thơ mới trong chương trình ngữ văn 11 theo hướng liên văn bản

2.12. Các phương pháp dạy học Thơ mới theo hướng liên văn bản

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM DẠY HỌC CÁC TÁC PHẨM THƠ MỚI THEO HƯỚNG TIẾP CẬN LIÊN VĂN BẢN

3.1. Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm

3.2. Đối tượng, địa bàn thực nghiệm

3.3. Tiến trình thực nghiệm

3.4. Điều tra trình độ học sinh trước khi thực nghiệm

3.5. Nội dung thực nghiệm

3.6. Phương pháp tiến hành thực nghiệm

3.7. Kết quả thực nghiệm sư phạm

3.8. Nhận xét chung về kết quả thực nghiệm

3.9. Kết quả thực nghiệm cụ thể

3.10. Thiết kế giáo án thực nghiệm

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Vận Dụng Lý Thuyết Liên Văn Bản Trong Dạy Thơ Mới

Lý thuyết liên văn bản là một trong những phương pháp dạy học hiện đại, giúp học sinh tiếp cận và cảm thụ văn học một cách sâu sắc hơn. Việc áp dụng lý thuyết này vào dạy thơ mới trong chương trình Ngữ văn 11 không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về các tác phẩm mà còn phát triển kỹ năng phân tích văn bản. Thơ mới, với những đặc trưng riêng, cần được giảng dạy theo cách tiếp cận liên văn bản để học sinh có thể nhận diện mối liên hệ giữa các tác phẩm và bối cảnh lịch sử, văn hóa.

1.1. Khái Niệm Lý Thuyết Liên Văn Bản

Lý thuyết liên văn bản được phát triển từ những năm 1960, nhấn mạnh rằng mọi văn bản đều không thể tách rời khỏi các văn bản khác. Điều này có nghĩa là mỗi tác phẩm văn học đều có mối liên hệ với các tác phẩm khác, tạo nên một mạng lưới văn bản phong phú. Việc hiểu rõ khái niệm này sẽ giúp giáo viên và học sinh có cái nhìn toàn diện hơn về văn học.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Việc Dạy Thơ Mới Theo Hướng Liên Văn Bản

Dạy thơ mới theo hướng liên văn bản giúp học sinh không chỉ nắm bắt nội dung mà còn hiểu được giá trị nghệ thuật và tư tưởng của tác phẩm. Điều này tạo điều kiện cho học sinh phát triển khả năng tư duy phản biện và sáng tạo, từ đó nâng cao chất lượng học tập.

II. Thách Thức Trong Việc Dạy Thơ Mới Ở Trường Trung Học Phổ Thông

Việc dạy thơ mới hiện nay gặp nhiều thách thức, từ việc học sinh thiếu hứng thú đến việc giáo viên chưa áp dụng hiệu quả các phương pháp dạy học hiện đại. Những khó khăn này cần được nhận diện và giải quyết để nâng cao chất lượng dạy học.

2.1. Học Sinh Thiếu Hứng Thú Với Thơ Mới

Nhiều học sinh hiện nay không cảm thấy hứng thú với thơ mới do thiếu sự kết nối giữa tác phẩm và cuộc sống thực tế. Việc không hiểu rõ giá trị của thơ mới khiến học sinh khó tiếp cận và cảm thụ tác phẩm một cách sâu sắc.

2.2. Giáo Viên Chưa Tận Dụng Được Lý Thuyết Liên Văn Bản

Nhiều giáo viên vẫn còn sử dụng phương pháp giảng dạy truyền thống, chưa áp dụng lý thuyết liên văn bản vào giảng dạy. Điều này dẫn đến việc học sinh không được tiếp cận với các mối liên hệ giữa các tác phẩm, làm giảm khả năng phân tích và cảm thụ văn học.

III. Phương Pháp Dạy Thơ Mới Theo Hướng Liên Văn Bản

Để nâng cao chất lượng dạy học thơ mới, cần áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại, đặc biệt là phương pháp liên văn bản. Các phương pháp này không chỉ giúp học sinh hiểu rõ hơn về tác phẩm mà còn phát triển kỹ năng phân tích và tư duy phản biện.

3.1. Dạy Học Thơ Mới Qua So Sánh Với Thơ Cũ

Việc so sánh giữa thơ mới và thơ cũ giúp học sinh nhận diện sự khác biệt trong phong cách và nội dung. Điều này không chỉ làm phong phú thêm kiến thức mà còn giúp học sinh hiểu rõ hơn về sự phát triển của văn học Việt Nam.

3.2. Tích Hợp Liên Văn Bản Trong Giảng Dạy

Tích hợp liên văn bản trong giảng dạy thơ mới giúp học sinh nhận diện các mối liên hệ giữa các tác phẩm và bối cảnh lịch sử, văn hóa. Điều này tạo điều kiện cho học sinh phát triển khả năng tư duy phản biện và sáng tạo.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Lý Thuyết Liên Văn Bản Trong Dạy Thơ Mới

Việc áp dụng lý thuyết liên văn bản vào dạy thơ mới đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Học sinh không chỉ nắm bắt nội dung tác phẩm mà còn phát triển kỹ năng phân tích và cảm thụ văn học.

4.1. Kết Quả Nâng Cao Năng Lực Cảm Thụ Văn Chương

Nhiều học sinh đã cho thấy sự tiến bộ rõ rệt trong việc cảm thụ văn chương sau khi áp dụng lý thuyết liên văn bản. Học sinh có khả năng phân tích sâu sắc hơn về các tác phẩm thơ mới, từ đó nâng cao chất lượng học tập.

4.2. Tạo Ra Môi Trường Học Tập Tích Cực

Việc áp dụng lý thuyết liên văn bản tạo ra môi trường học tập tích cực, khuyến khích học sinh tham gia thảo luận và chia sẻ ý kiến. Điều này không chỉ giúp học sinh phát triển kỹ năng giao tiếp mà còn tạo ra sự kết nối giữa các học sinh.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Việc Dạy Thơ Mới Theo Hướng Liên Văn Bản

Việc dạy thơ mới theo hướng liên văn bản không chỉ giúp học sinh nâng cao năng lực cảm thụ văn chương mà còn góp phần đổi mới phương pháp dạy học. Tương lai của việc dạy học này cần được tiếp tục nghiên cứu và phát triển để đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh.

5.1. Định Hướng Phát Triển Phương Pháp Dạy Học

Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các phương pháp dạy học hiện đại, đặc biệt là phương pháp liên văn bản, để nâng cao chất lượng dạy học thơ mới trong chương trình Ngữ văn 11.

5.2. Khuyến Khích Sự Sáng Tạo Trong Dạy Học

Khuyến khích giáo viên và học sinh sáng tạo trong việc áp dụng lý thuyết liên văn bản vào dạy học. Điều này sẽ tạo ra môi trường học tập tích cực và giúp học sinh phát triển toàn diện.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ued vận dụng lý thuyết liên văn bản vào dạy học các tác phẩm thơ mới trong chương trình ngữ văn 11 trung học phổ thông

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lí thuyết liên văn bản 1. Nguồn gốc liên văn bản Liên văn bản (intertextuality) là thuật ngữ được nhà lý luận của chủ nghĩa hậu hiện đại J.Kristéva đưa ra vào năm 1967, trong tiểu luận “Bakhtin, từ, đối thoại và tiểu thuyết”. “Mỗi văn bản đều như là tấm vải mới được dệt bằng những trích dẫn cũ” [16, 35].

Liên văn bản là một trong những thuật ngữ được sử dụng nhiều nhất nhưng đồng thời cũng là một trong những thuật ngữ khó xác định nhất trong lý thuyết văn học nửa sau thế kỷ XX. Liên văn bản từng được sử dụng với những tên gọi khác nhau: Đối thoại, liên ý thức, tiếp xúc văn bản, ngữ cảnh. Những thuật ngữ này được M. Voloshilov sử dụng trong các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ và văn học, thi pháp học và phương pháp luận xã hội, chống hình thức chủ nghĩa và ngữ nghĩa học mĩ học.

Thuật ngữ liên văn bản lần đầu tiên được J.Kristeva sử dụng (1967) trên cơ sở phân tích quan niệm “tiểu thuyết đa thanh” của M Bakhtin. Liên văn bản theo nghĩa nguyên khởi của thuật ngữ là cơ chế vận hành hiện thực được văn bản hóa, nằm ngoài ý muốn của tác giả văn bản lại do tâm thức của thế kỉ XX sinh ra. Chính trong thế kỉ này Liên văn bản đã trở thành quan niện trung tâm về một bức tranh thế giới xác định, cụ thể là quan niệm thế giới như một văn bản, điều này được thể hiện trong nhiều tác phẩm văn học hiện đại. Chính khái niệm liên văn bản đã làm thay đổi cả cách nhìn về tính điển phạm, dẫn đến việc lật đổ các hệ thống giá trị cũ, mở ngỏ cho sự lên ngôi của nhiều luồng văn học vốn, trước đó bị xem là ngoài lề, thậm chí, hoàn toàn bị quên lãng.

Tiếp cận liên văn bản xem mỗi sự sinh thành của văn bản là một hiện tượng quan hệ, một quá trình kết nối, tương tác, đối thoại của văn bản trong mạng lưới diễn ngôn xã hội. Văn bản có những mối quan hệ liên văn bản trong mạng lưới từ cấp độ vi mô đến vĩ mô: kí ức ngôn ngữ, sự biến tấu và tái sinh 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các thủ pháp, mô–típ, hình tượng, sự mô phỏng, nhại, vay mượn, trích dẫn, chuyển thể, chuyển dịch, biến đổi, ảnh hưởng, đọc sai, ám chỉ, đạo văn, pha trộn thể loại…Trong cách tiếp cận này, bất cứ một văn bản nào cũng có tiềm năng trở thành chất liệu của một văn bản khác ra đời sau nó, bất cứ một văn bản nào cũng được giả thiết là sự đối thoại, chồng xếp, đồng quy vô số văn bản khác nhau. Tiếp cận liên văn bản đòi hỏi người nghiên cứu tiến dẫn văn bản vào mạng lưới văn bản xã hội, diễn ngôn ý thức hệ và diễn ngôn tập thể, trong đó bất kì văn bản nghệ thuật nào cũng là kết quả của thực tiễn thương thỏa nghệ thuật, nơi mà những gì biệt lập, cô lập đều bất khả và không có tương lai. Mặc dù đóng một vai trò quan trọng như vậy nhưng Richard Schoek có lần than thở, lịch sử của liên văn bản chưa được viết ra hoặc như Graham Allen đánh giá; nội hàm khái niệm liên văn bản được mở rộng một cách tuỳ tiện đến độ nó có nguy cơ trở thành vô nghĩa.

Tuy nhiên, trên thực tế những công trình nghiên cứu nghiêm chỉnh về liên văn bản tương đối ít có sự khác biệt. Hầu như mọi người đều thống nhất với nhau về nguồn gốc của khái niệm: nó xuất hiện lần đầu tiên trong một bài viết của Julia Kristeva vào năm 1966, “Bakkhtin, từ, đối thoại và tiểu thuyết”. Kết quả của nỗ lực khai triển ấy là một sự ra đời của một thuật ngữ mới: tính liên văn bản (intertextuality). Theo Kristeva, văn bản không được hình thành từ những ý đồ sáng tác riêng của người cầm bút mà chủ yếu là từ những văn bản khác đã hiện hữu trước đó: mỗi văn bản là một sự hoán vị của các văn bản, nơi lời nói từ các văn bản khác gặp gỡ nhau, tan loãng vào nhau và trung hoà sắc độ của nhau.

Nói cách khác, không có văn bản nào thực sự cô lập, một mình một cõi, như một sự sáng tạo tuyệt đối: văn bản nào cũng chịu sự tác động của văn bản văn hoá (cultural text), cũng chứa đựng ít nhiều những cấu trúc ý thức hệ và quyền lực thể hiện qua các hình thức diễn ngôn khác nhau trong xã hội. Hậu quả là từ hay văn bản nào cũng là một giao điểm nơi ít nhất là một từ hay một văn bản khác được đọc. Trong ý nghĩa này, Kristeva xem văn bản có tính sản xuất 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (productivity) lúc nào nó cũng là một quá trình vận động và tương tác liên tục. Ý nghĩa của các từ ngữ được sử dụng trong văn bản thay đổi màu sắc theo những thay đổi trong xã hội.

Kristeva cho ý nghĩa của mỗi từ trong văn bản được quy định bởi hai trục khác nhau: một, trục ngang, giữa tác giả và độc giả; và hai, trục dọc, giữa nó với các văn bản khác cũng như với chu cảnh (context) văn hoá và xã hội trước đó cũng như cùng thời. Từ đó, Kristeva cho rằng mỗi văn bản là một liên văn bản, ở đó các văn bản khác cùng hiện hữu để góp phần chi phối và làm thay đổi diện mạo của văn bản ấy. Mỗi văn bản là một sự hấp thụ và chuyển thể của văn bản khác, là một tấm vải mới dệt từ những trích dẫn cũ, ở đó có vô số những mảnh vụn của các mã ngôn ngữ, các quy ước văn học, các khuôn mẫu nhịp điệu, các hình thức diễn ngôn vốn từng phổ biến trong xã hội. Quan niệm về tính liên văn bản của Kristeva nhanh chóng nhận được sự đồng tình của nhiều lý thuyết gia lớn, những người sẽ khai triển khái niệm tính liên văn bản theo nhiều chiều hướng khác nhau, mở rộng nội hàm của nó, biến nó thành một trong những thuật ngữ vừa được phổ biến rộng rãi, ít nhiều có tính thời thượng, lại vừa phức tạp, thậm chí chứa đầy nghịch lý, nhất là khi chuyển từ lý thuyết gia này sang lý thuyết gia khác.

Trong số các tên tuổi ấy có thể kể đến Michel Foucault, người chủ trương “biên giới của một cuốn sách không bao giờ thực rõ ràng” vượt ra ngoài nhan đề, dòng chữ đầu tiên và dấu chấm cuối cùng, vượt ra ngoài cấu trúc nội tại và hình thức mang tính tự trị của nó, nó bị bắt gặp quả tang là đang hoà lẫn vào một hệ thống quy chiếu đến các cuốn sách khác, các văn bản khác, các câu văn khác. Gérard Genette biến khái niệm tính liên văn bản thành tính xuyên văn bản (transtextuality), một khái niệm khá rộng, thâu tóm cả năm khái niệm khác, nhỏ hơn: liên văn bản, bàng văn bản (paratextuality), siêu văn bản (metatextuality), cực đại văn bản (hypertextuality) và cổ văn bản (architextuality). Michael Riffaterre vận dụng khái niệm tính liên văn bản vào việc đọc thơ: với ông, “một bài thơ được đọc ngược chiều về thi tính” (A poem is read poetically backwards) với ý nghĩa là: 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người đọc bao giờ cũng đọc và cảm nhận bài thơ với tất cả những kiến thức về thơ có sẵn, với những mạng liên văn bản được hình thành trong quá trình giáo dục cũng như quá trình đọc với tư cách một độc giả. Harold Bloom tiếp cận khái niệm tính liên văn bản từ cả góc độ tu từ học lẫn phân tâm học.

Theo ông, tất cả mọi văn bản đều là liên văn bản và liên văn bản lại là sản phẩm của “sự lo lắng về ảnh hưởng” (anxiety of influence). Ý nghĩa của một văn bản không hoàn toàn nằm bên trong bản thân nó mà tồn tại trong mối tương tác với các văn bản khác, nghĩa là giữa các văn bản khác nhau. Liên văn bản và những thay đổi trong văn học Việc khám phá ra tính liên văn bản và từ đó, người đọc, làm thay đổi hẳn diện mạo của lịch sử văn học. Trước, nói đến lịch sử văn học, người ta liên tưởng ngay đến các diễn tiến xung quanh trục tác giả / tác phẩm / truyền thống.

Sau, người ta tập trung vào trục văn bản / diễn ngôn / văn hoá. Việc chuyển hướng này, một mặt, thay thế quan niệm lịch sử văn học như một quá trình tiến hoá bằng một quan niệm chú trọng vào khía cạnh cấu trúc và đồng đại của sinh hoạt văn học như một hệ thống ký hiệu, mặt khác giải thoát văn bản văn học ra khỏi cách nhìn tất định luận về tâm lý, xã hội học hay lịch sử. Việc khám phá ra tính liên văn bản cũng làm thay đổi bảng giá trị truyền thống của văn học. Với tính liên văn bản, mọi văn bản đều trở thành bất quyết và bất định; cái gọi là bản sắc văn bản cũng như những thẩm quyền vốn gắn liền với văn bản từ xưa đến nay đều bị đặt thành nghi vấn.

Ví dụ, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn, người ta xem tính độc sáng như tiêu chí cao nhất của văn học, nhưng nếu văn bản chỉ là một mạng lưới của các trích dẫn không rõ xuất xứ, cái gọi là tính độc sáng ấy tự nhiên biến thành một điều vô nghĩa. Sự sụp đổ của tính độc sáng làm cho ranh giới giữa văn học và cái phi văn học trở thành mập mờ. Cái gì cũng là một văn bản cả, một bài thơ hay một thiên tiểu thuyết là một văn bản, một lá truyền đơn, một mẩu nhắn tin hay một tờ quảng cáo v.v cũng đều là văn bản. Hơn nữa, cả những công trình phi ngôn 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngữ như một bức tranh, một màn trình diễn thời trang cũng có thể được xem là những văn bản.

Bất cứ cái gì có thể được nhìn như một ký hiệu và có khả năng biểu đạt một ý nghĩa đều được xem là văn bản. Văn bản nào cũng ở trong quá trình vận động liên tục. Trong quá trình vận động ấy, hình dạng của nó không ngừng thay đổi. Sự thay đổi về không gian sẽ kéo theo sự thay đổi trong bản thân khái niệm “văn bản”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Vận Dụng Lý Thuyết Liên Văn Bản Trong Dạy Thơ Mới Ngữ Văn 11" khám phá cách áp dụng lý thuyết liên văn bản vào việc giảng dạy thơ mới trong chương trình Ngữ văn lớp 11. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết nối các tác phẩm văn học với nhau, giúp học sinh hiểu sâu hơn về ngữ cảnh và ý nghĩa của các tác phẩm. Bằng cách này, giáo viên có thể khuyến khích sự sáng tạo và tư duy phản biện của học sinh, đồng thời làm phong phú thêm trải nghiệm học tập của họ.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp giảng dạy sáng tạo, bạn có thể tham khảo tài liệu "Skkn phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh thông qua một số hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học chủ đề tích hợp truyện kiều nguyễn du chương trình ngữ văn", nơi trình bày các hoạt động trải nghiệm giúp học sinh phát huy tính sáng tạo.

Ngoài ra, tài liệu "Skkn sử dụng thơ ca dao tục ngữ trong dạy học địa lý tự nhiên lớp 10 và lớp 12" cũng cung cấp cái nhìn về việc tích hợp thơ ca vào giảng dạy các môn học khác, mở rộng khả năng liên kết giữa các lĩnh vực học tập.

Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về "Skkn dạy học dự án theo chủ đề từ tác phẩm bình ngô đại cáo của nguyễn trãi hướng đến giáo dục lòng yêu nước cho tuổi trẻ hiện nay", tài liệu này sẽ giúp bạn thấy được cách thức giảng dạy có thể kết nối văn học với các giá trị văn hóa và lịch sử.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những phương pháp giảng dạy hiệu quả, giúp nâng cao chất lượng giáo dục.