phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo thì khóa luận gồm có 3 chƣơng: * Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học môn Đạo đức lớp 4 * Chƣơng 2: Vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học môn Đạo đức lớp 4 * Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm. 6 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG DẠY HỌC MÔN ĐẠO ĐỨC LỚP 4 1. Lý luận về dạy học tích cực và phƣơng pháp dạy học tích cực 1.
Quan niệm dạy học tích cực Theo dự án Việt – Bỉ của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì thuật ngữ dạy học tích cực đƣợc hiểu nhƣ sau: “Dạy học tích cực (DHTC) là hoạt động dạy học phát huy tính tích cực học tập của HS, lấy người học làm trung tâm. Trong DHTC, hoạt động học tập được thực hiện trên cơ sở hợp tác và giao tiếp ở mức độ cao.” [1; 15] DHTC nhấn mạnh đến tính tích cực hoạt động của ngƣời học và tính nhân văn của giáo dục. “Bản chất của DHTC: - Khai thác động lực học của người học để phát triển chính họ. - Coi trọng lợi ích, nhu cầu của cá nhân để chuẩn bị tốt cho họ thích ứng với đời sống xã hội.
Giáo viên phải đƣợc đào tạo chu đáo để thích ứng với những thay đổi chức năng, với những nhiệm vụ đa dạng, phức tạp của ngƣời GV, nhiệt tình với công cuộc đổi mới giáo dục. Giáo viên phải có tri thức chuyên môn sâu rộng, có trình độ sƣ phạm lành nghề, biết ứng xử tinh tế, biết sử dụng các công cụ công nghệ thông tin vào dạy học… Nhƣ vậy dạy học tích cực là hoạt động dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của ngƣời học, coi trọng lợi ích của ngƣời học và lấy ngƣời học làm trung tâm nhằm khai thác động lực để phát triển chính họ. Quan niệm phƣơng pháp dạy học tích cực Phƣơng pháp dạy học tích cực là thuật ngữ đƣợc sử dụng rộng rãi ở nhiều nƣớc. Và theo dự án Việt – Bỉ của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì thuật ngữ phƣơng pháp dạy học tích cực đƣợc hiểu: “Thuật ngữ phương pháp dạy học tích cực 7 được dùng để chỉ những phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.” [1; 15] “Tích cực” trong PPDH tích cực đƣợc dùng với nghĩa hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực.
PPDH tích cực hƣớng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của con ngƣời, nghĩa là tập trung phát huy tính tích cực của ngƣời học chứ không phải là tập trung phát huy tính tích cực của ngƣời dạy đành rằng để dạy theo PPDH tích cực thì GV nổ lực hơn rất nhiều so với dạy học thụ động. Phƣơng pháp dạy học tích cực đề cập đến cách tổ chức các hoạt động dạy học nhằm tích cực hóa các hoạt động dạy học và phát huy tính sáng tạo của ngƣời học. Phƣơng pháp dạy học tích cực đem lại cho ngƣời học hứng thú, niềm vui và sự hăng say trong học tập, tích cực hóa và tăng cƣờng sự tham gia của ngƣời học, tạo điều kiện cho ngƣời học phát triển tối đa khả năng học tập cũng nhƣ năng lực, khả năng giải quyết vấn đề của mình. Lý luận về kĩ thuật dạy học tích cực 1.
Khái niệm kĩ thuật dạy học tích cực * Kĩ thuật dạy học Trong khi các PPDH có thể đƣợc xem là một quy trình tổng thể đƣợc ngƣời giáo viên sử dụng để giảng bài cụ thể thì KTDH là nghệ thuật hay kỹ năng thực hiện bài dạy. Giáo viên có thể sử dụng phƣơng pháp trao đổi, nhƣng cách đặt câu hỏi để thu hút, lôi kéo sự tham gia của học sinh là kĩ thuật riêng của giáo viên. Có thể sử dụng phƣơng pháp khám phá nhƣng cách để giúp học sinh áp dụng hay thực hành điều đã học là kĩ thuật của giáo viên. Nhƣ vậy có thể thừa nhận khái niệm về KTDH nhƣ sau: “Kĩ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của GV và HS trong các tình huống, hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học.” [12; 43] KTDH là khái niệm nhỏ nhất, thực hiện các tình huống hành động.
Các kĩ thuật dạy học chƣa phải là các PPDH độc lập mà là những thành phần, những đơn vị nhỏ nhất của phƣơng pháp dạy học. 8 * Kĩ thuật dạy học tích cực Trên cơ sở lý luận về KTDH, đã có khái niệm về KTDH tích cực nhƣ sau: “Kĩ thuật dạy học tích cực là những KTDH có tác dụng phát huy tính tích cực học tập của HS, kích thích tư duy, sự sáng tạo và cộng tác làm việc của HS.” [12; 45] KTDH tích cực là thành phần của các PPDH tích cực, là thể hiện quan điểm dạy học (QĐDH) phát huy tính tích cực học tập của HS. Có thể kể đến một số KTDH tích cực nhƣ: kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật phòng tranh, kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật bể cá, kĩ thuật công đoạn, kĩ thuật mảnh ghép, kĩ thuật trình bày một phút, kĩ thuật KWL… 1. Tác dụng của việc vận dụng kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học Đạo đức lớp 4 Vận dụng KTDH tích cực có tác dụng quan trọng trong dạy học môn Đạo đức nói chung và dạy học môn Đạo Đức lớp 4 nói riêng, cụ thể nhƣ sau: - Giúp việc tiếp cận và lĩnh hội kiến thức môn học trở nên nhẹ nhàng hơn từ đó HS hứng thú và ham học hơn.
- Học sinh chủ động tiếp thu kiến thức. - Sử dụng các KTDH tích cực giúp HS học tập một cách tích cực, huy động tối đa tiềm năng của não bộ, phát triển trí lực của HS. Giúp các em hình thành thói quen suy nghĩ, tự tay ghi chép hay tổng kết vấn đề từ đó giúp các em hiểu và nhớ lâu những gì đƣợc học. - Tạo không khí mới mẻ và vui tƣơi, sôi nổi cho lớp học.
- Khi GV vận dụng các KTDH tích cực thì HS đƣợc làm quen với các cách thức hoạt động mới để giải quyết các tình huống nhỏ của bài học thay vì cứ áp dụng các kĩ thuật nhàm chán thông thƣờng. - Vận dụng các KTDH tích cực giúp tăng cƣờng hiệu quả học tập. - Tăng cƣờng trách nhiệm cá nhân của HS và yêu cầu các em áp dụng nhiều năng lực khác nhau nên phát triển đƣợc nhiều năng lực cho HS. - Giúp phát triển các mối quan hệ giữa HS với HS dựa trên sự tôn trọng, hợp tác, chia sẻ với nhau.
9 - Hình thành, rèn luyện cho HS một số kỹ năng cần thiết nhƣ: kỹ năng thảo luận nhóm, kỹ năng đóng góp ý kiến cũng nhƣ bảo vệ ý kiến,… - Kích thích hứng thú, tƣ duy, sự sáng tạo, sự cộng tác làm việc. - Đặc biệt vận dụng KTDH tích cực trong dạy học môn Đạo đức còn tạo điều kiện cho HS giải quyết các tình huống, các vấn đề một cách tích cực hơn. Một số kĩ thuật dạy học tích cực 1. Kĩ thuật khăn trải bàn * Quan điểm “Kĩ thuật khăn trải bàn là một kĩ thuật dạy học thể hiện quan điểm/ chiến lược học hợp tác, trong đó có kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm.” [12; 54] Kĩ thuật khăn trải bàn nhằm mục đích kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực của HS; tăng tính độc lập, trách nhiệm của cá nhân HS; phát triển mô hình có sự tƣơng tác giữa HS với HS.
Ý kiến cá nhân 2 Ý kiến Ý Ý kiến chung kiến cá của cả nhóm nhân cá về chủ đề nhân 1 3 Ý kiến cá nhân 4 * Tiến trình - Học sinh đƣợc chia thành các nhóm nhỏ. Mỗi nhóm có một tờ giấy Ao đặt trên bàn nhƣ một chiếc khăn trải bàn. Chia tờ giấy Ao thành các phần: phần chính và các phần xung quanh (các phần xung quanh có thể đánh số hoặc ghi tên của thành viên tƣơng ứng). - Mỗi thành viên suy nghĩ và viết các ý tƣởng của mình về vấn đề vào phần cạnh của khăn trải bàn trƣớc mặt mình.
- Thảo luận nhóm, tìm ra những ý tƣởng chung và viết vào chính giữa. 10 * Ƣu điểm và hạn chế - Ưu điểm: + Học sinh học đƣợc cách tiếp cận với nhiều kĩ thuật, phƣơng pháp và chiến lƣợc khác nhau. + Học sinh chủ động trong tiếp cận tri thức. + Các câu hỏi là câu hỏi mở nên HS đƣa ra nhiều ý kiến, phát huy hết khả năng của mình.
+ Giúp phát triển các mối quan hệ giữa HS với HS dựa trên sự tôn trọng, hợp tác, chia sẻ với nhau, hình thành cho các em một số kỹ năng cần thiết. + Kĩ thuật khăn trải bàn là kĩ thuật thông dụng, đơn giản, dễ thực hiện, khắc phục đƣợc những hạn chế của dạy học theo nhóm. Trong học theo nhóm nếu tổ chức không tốt đôi khi chỉ có thành viên tích cực làm việc, các thành viên khác thƣờng ỷ lại, trông chờ làm mất thời gian, hiệu quả học không cao. Còn kĩ thuật khăn trải bàn đòi hỏi tất cả các thành viên đều làm việc cá nhân, suy nghĩ, viết ra ý kiến trƣớc thảo luận nên các cuộc thảo luận đều có ý kiến của tất cả thành viên giúp dạy học hiệu quả hơn.
+ Giúp GV quản lý, đánh giá đƣợc ý thức cũng nhƣ kết quả làm việc của HS, tránh tình trạng ỷ lại, trong nhóm chỉ có một số HS làm việc còn các thành viên khác thì không. - Hạn chế: + Giáo viên phải tốn thời gian và chi phí cho việc chuẩn bị các đồ dùng. + Học sinh phải nắm đƣợc trọng tâm yêu cầu nếu không sẽ lan man, sa đà vào các chi tiết phụ và kém hiệu quả. + Mất nhiều thời gian, GV khó kiểm soát thời gian tiết dạy.
+ Có một số trƣờng hợp các em chậm tiến sẽ trông chờ vào các bạn khá giỏi hơn viết trƣớc rồi chép theo. * Một số lƣu ý khi sử dụng - Câu hỏi thảo luận là câu hỏi mở. - Số lƣợng HS trong mỗi nhóm không quá đông, nhóm từ 4 đến 6 HS. 11 - Trƣớc khi HS thảo luận, GV cần hƣớng dẫn HS cách thực hiện hoạt động trong kĩ thuật khăn trải bàn.
- Sau khi giao nhiệm vụ, hƣớng dẫn các thao tác trong kĩ thuật khăn trải bàn thì GV mới phát bảng phụ để HS không bị phân tán sự chú ý và tránh gây ồn ào.