phần mở đầu đã 8 tuyên bố: “khẳng định một lần nữa sự tin tưởng vào những điều cơ bản, nhân phẩm và giá trị của con người vào quyền bình đẳng giữa nam và nữ” khoản 3 Điều 1 đã đề cập đến nội dung quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hướng “khuyên khích phát triển sự tôn trọng các quyền của con người và các quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc nam, nữ ngôn ngữ hoặc tôn giáo” Điều 55 mục c ghi nhận Liên hiệp quốc khuyên khích “sự tôn trọng và tuân thủ triệt để các quyền và tự do cơ bản của tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hay tôn giáo”[14] Điều 18 ghi nhận như sau “Mỗi người điều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo kể cả tự do thay đổi tín ngưỡng hoặc tôn giáo của mình bằng các hình thức như truyền giảng, thực hành, thờ cúng và tuân thủ các nghi lễ dưới hình thức cá nhân hay tập thể tại nơi công cộng hoặc riêng tư” [11]. UDHR đã xác định bảo đảm như tôn trọng và thực thi các nguyên tắc quan trọng nhất trong việc bảo vệ quyền con người. Mọi người điều bình đẳng không biệt bất đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, văn hóa tôn giáo trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng chống lại bất kỳ sự phân biệt đối xử vi phạm bản Tuyên ngôn này và chống lại phân biệt bất kỳ sự kích động phân biệt đối xử như vậy [13]. Theo Điều 2 luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng.
Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức. Ở Việt Nam, quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng được Đảng, Nhà nước pháp luật ghi nhận phù hợp với quy định của công ước quốc tế về các quyền dân sự. Trong giai đoạn hiện nay các tôn giáo ở Việt Nam được thừa nhận và bảo đảm cho hoạt động thực quyền tín ngưỡng, trong các vùng miền trrên phạm vi cả nước. Đảng và Nhà nước nghiên cứu xây dựng môi trường pháp luật đảm bảo tốt để hoàn thiện các chức năng quyền hạn về việc thể hiện niềm tin diễn ra bình đẳng và tính họp hiến, hợp pháp của tín đồ.
Những quyền đó được thể hiện bằng văn bản pháp luật, dưới 9 luật, quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam thừa nhận khá đầy đủ, trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Do vậy bảo đảm quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng được nhà nước ghi nhận trong Hiến pháp và Luật tín ngưỡng, tôn giáo và các văn bản pháp luật khác. Theo đó đề ra các biện pháp nhằm bảo đảm các quyền thực hiện tốt đồng thời, có kế hoạch định hướng phù hợp với mọi người trong xã hội được quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng trong thời kỳ nền kinh tế hội nhập. Nội dung quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng 1.
Quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng quy định trong Luật tín ngưỡng, tôn giáo. Ngày 18-11-2016, Luật tín ngưỡng, tôn giáo đã được Quốc hội xem xét, thông qua và có hiệu lực từ ngày 1-1-2018. Phải khẳng định rằng, Luật tín ngưỡng, tôn giáo mới được thông qua là một dấu mốc quan trọng khẳng định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với nhu cầu đời sống tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, qua đó khuyến khích mọi người dân góp phần phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc để xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng phát triển. Luật tín ngưỡng, tôn giáo gồm chín chương, 68 điều, có tính kế thừa từ quy định của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 92/2012/NĐ-CP (năm 2012) của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo.
Đồng thời, Luật bổ sung các quy định mới nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Từ tháng 10-2014, Dự thảo của Luật tín ngưỡng, tôn giáo đã được triển khai lấy ý kiến của các chuyên gia, công dân, tín đồ, chức sắc tôn giáo tại các hội nghị, hội thảo, qua in-tơ-nét (internet) và đồng thời cũng nhận được một số ý kiến đóng góp của các cá nhân, học giả, các tổ chức quốc tế. Qua các cuộc tiếp xúc với đại diện một số đại sứ quán, Liên hiệp châu Âu, các tổ chức quốc tế, Đoàn đại sứ lưu động Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ,…Đại diện Ban Tôn giáo Chính phủ đã chia sẻ, khẳng định Dự thảo Luật tín ngưỡng, tôn giáo đã được thực hiện theo quy trình làm luật chặt chẽ, công khai, minh bạch, với tinh thần 10 bảo đảm quyền tự tôn giáo, tín ngưỡng. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo chứa đựng nhiều nội dung mới, cụ thể: - Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận rõ "Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào", Luật quy định chủ thể thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là mọi người (Điều 6).
Luật tín ngưỡng tôn giáo mọi người được quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo, các tín đồ, Phật tử học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo. Trong quá trình thực hành giáo lý được quyền tham gia vào các khóa tu tại tu tại cơ sở tôn giáo mà cá nhân tổ chức hành đạo. Cá nhân người chưa thành niên muốn vào khóa tu tại cơ sở thờ tự hay chùa phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ chấp thuận. Các chủ thể bị tạm giữ, bị tạm giam theo quy định của pháp luật về tạm giữ, tạm giam hay đang chấp hành hình phạt tù tại cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách để bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo và tất cả mọi người sẽ không bị giới hạn bởi quốc tịch, giới tính, độ tuổi.
Việc sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo của người bị quản lý, giam giữ tại cơ sở quản lý, giam giữ không được làm ảnh hưởng đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của người khác và không trái với quy định của pháp luật có liên quan. - Quyền của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc Về quyền của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc (Điều 7) Luật quy định như sau: (1). Hoạt động tôn giáo theo hiến chương, điều lệ và văn bản có nội dung tương tự của tổ chức tôn giáo. Tổ chức sinh hoạt tôn giáo.
Xuất bản kinh sách và xuất bản phẩm khác về tôn giáo. Sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm tôn giáo, đồ dùng tôn giáo. Cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới cơ sở tôn giáo. Nhận tài sản hợp pháp do tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài tự nguyện tặng cho.
Các quyền khác theo quy định của Luật và quy định khác của pháp luật có liên quan. - Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam 11 Về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam (Điều 8), Luật quy định người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam có quyền sinh hoạt tôn giáo, tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo, sử dụng địa điểm hợp pháp để sinh hoạt tôn giáo tập trung, mời chức sắc, chức việc, nhà tu hành là người nước ngoài giảng đạo; vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo của tổ chức tôn giáo ở Việt Nam; mang theo xuất bản phẩm tôn giáo, đồ dùng tôn giáo để phục vụ nhu cầu sinh hoạt tôn giáo theo quy định của pháp luật Việt Nam. Ngoài ra Luật cũng quy định chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được giảng đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác ở Việt Nam.
Trên cơ sở quy định của Luật tín ngưỡng, tôn giáo, Quốc hội Việt Nam đã xây dựng những quy định cụ thể trong luật để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng trong thực tế. Có thể nói, những quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam thể hiện rõ chế độ xã hội ta là một trong những chế độ xã hội tiến bộ so với nhiều nhà nước khác trên thế giới. Luật tín ngưỡng tôn giáo càng cho thấy giá trị thời đại. Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận tại Điều 18 một cách cụ thể hơn: “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo, kể cả tự do thay đổi tín ngưỡng hoặc tôn giáo của mình, và tự do bày tỏ tín ngưỡng hay tôn giáo của mình bằng các hình thức như truyền giảng, thực hành, thờ cúng và tuân thủ các nghi lễ, dưới hình thức cá nhân hay tập thể, tại nơi công cộng hoặc nơi riêng tư”.
Về nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo phải tuân thủ Hiến pháp, Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Chức sắc, chức việc, nhà tu hành, người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng có trách nhiệm hướng dẫn tín đồ, người tham gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo thực hiện hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo đúng quy định của pháp luật.