MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Bạo lực gia đình đã và đang trở thành một vấn đề xã hội nhức nhối gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng mà trước hết là vi phạm đến quyền con người, danh dự, nhân phẩm và tính mạng của mỗi cá nhân, đặc biệt là phụ nữ, trẻ em. Bạo lực gia đình làm xói mòn các giá trị truyền thống tốt đẹp, tác động xấu đến môi trường giáo dục thế hệ trẻ, ảnh hưởng đến sự an toàn lành mạnh của cộng đồng và trật tự xã hội. Bạo lực giới được duy trì bởi niềm tin và chuẩn mực văn hóa dựa trên sự mất giá của phụ nữ và được hợp pháp hóa, bị che khuất hoặc bị từ chối bởi các tổ chức xã hội và gia đình.
Các hành vi lạm dụng thường được đặc trưng là các sự kiện khủng khiếp hoặc bi thảm, do hậu quả của sự xui xẻo hoặc phán xét tồi tệ hoặc là ở sai vị trí không đúng lúc; trong khi thực tế bạo lực giới là một vấn đề lịch sử, phổ quát. Nó thường được trải nghiệm trong bối cảnh áp bức bổ sung dựa trên chủng tộc, sắc tộc, tuổi tác, khuynh hướng tình dục, bản sắc giới tính, loại lao động được thực hiện, trình độ học vấn, vị trí giai cấp, khuyết tật và tình trạng nhập cư hoặc tị nạn. Bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái xảy ra trong suốt cuộc đời, lạm dụng thể chất, tình dục, kinh tế và cảm xúc, tạo ra bầu không khí sợ hãi và dẫn đến những tổn thương nghiêm trọng về thể chất và tâm lý. Đó là biểu hiện cực đoan nhất của chủ nghĩa phân biệt giới tính kèm theo những tác hại giới tính khiến phụ nữ và trẻ em gái mang gánh nặng văn hóa xã hội xấu hổ, nhục nhã và đổ lỗi cho nạn nhân.
Chưa hết, các nền văn hóa kháng chiến mọc lên liên tục để chống lại các nền văn hóa bạo lực. Những người sống sót, nạn nhân, gia đình, cộng đồng, những người ủng hộ chống bạo lực và các nhà hoạt động công bằng xã hội tham gia kháng chiến, tổ chức cộng đồng và thay đổi văn hóa gia 1 trưởng để xây dựng cuộc sống không có bạo lực và thiết lập nền dân chủ và dân chủ giới. Mặc dù bạo lực gia đình là một hiện tượng rất phổ biến nhưng vấn đề này vẫn bị giấu giếm nhiều. Sự kỳ thị và sự xấu hổ khiến phụ nữ phải giữ im lặng, nhiều phụ nữ còn nghĩ rằng bạo lực trong quan hệ vợ chồng là điều “bình thường” và người phụ nữ cần bao dung, nhẫn nhịn chịu đựng để gìn giữ sự êm ấm cho gia đình.
Rõ ràng là bạo lực gia đình đã gây nên những hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe, thể chất và tinh thần của người phụ nữ. Ở Việt Nam, cứ bốn phụ nữ từng bị chồng bạo hành thể chất hoặc tình dục thì có một người cho biết họ phải chịu đựng những vết thương trên cơ thể và hơn một nửa trong số này cho biết họ đã bị thương tích nhiều lần. So với những phụ nữ chưa từng bị bạo hành thì những người đã từng bị chồng bạo hành có nhiều khả năng bị bệnh tật và sức khỏe kém hơn gần hai lần và khả năng nghĩ đến việc tự tử nhiều hơn gấp ba lần. Phụ nữ có thai cũng là đối tượng có nguy cơ bị bạo hành.
Nguyên nhân sâu xa của tình trạng bạo lực đối với phụ nữ là do sự bất bình đẳng về giới và nhận thức sai lệch, chưa đúng đắn về bình đẳng giới. Bạo lực gia đình để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với gia đình, xã hội và nền kinh tế quốc dân. Việc xóa bỏ bạo lực gia đình không phải là trách nhiệm của riêng ai mà là trách nhiệm của các ngành, các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội. Tháng 11/2006 và tháng 11/2007, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Phòng, chống bạo lực gia đình.
Ngay sau đó, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp quy hướng dẫn thực hiện và triển khai thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình. Việt Nam cũng là một trong những quốc gia đầu tiên ký Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ của Liên Hiệp Quốc (CEDAW) thể hiện được sự quan tâm của Nhà nước và Chính phủ về việc xóa bỏ nạn bạo lực gia đình. Mặc 2 dù đã có nhiều cố gắng, nhưng hiệu quả của công tác phòng, chống bạo lực gia đình chưa cao, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình chưa thực sự đi vào cuộc sống, đặc biệt ở địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Cơ chế thị trường đã tạo điều kiện để phụ nữ phát huy mạnh mẽ tài năng, sức sáng tạo, nâng cao vị thế của người phụ nữ Việt Nam.
Nhưng đồng thời, cơ chế thị trường và ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hoá cũng đang đặt ra không ít khó khăn, thách thức đối với phụ nữ: thiếu việc làm, thiếu cơ hội để học tập, nâng cao trình độ và tham gia vào các hoạt động xã hội, bất bình đẳng giới, là nạn nhân của các tệ nạn xã hội và bạo lực; là đối tượng đầu tiên gánh chịu bất hạnh do những đổ vỡ gia đình. Làm thế nào giúp phụ nữ vươn lên trong cuộc sống, vượt qua những tác động tiêu cực để họ không những thực hiên tốt chức năng kinh tế mà còn thực hiện tốt chức năng tình cảm, giáo giục con cái giữ gìn hạnh phúc gia đình. Hiện nay, tình trạng bạo lực gia đình xảy ra ở Việt Nam nổi lên như một vấn đề xã hội bức xúc. Nghiên cứu năm 2010 của tác giả Bùi Thị Xuân Mai trên 188 phụ nữ tại nông thôn cho thấy có tới gần 50% phụ nữ được hỏi họ đã từng trải nghiệm bị bạo lực tinh thần: mắng, nhiếc, xỉ vả… Bạo lực gia đình dẫn đến nhiều hậu quả: về thể xác, tinh thần, kinh tế.
Tổn thương về thể xác của nạn nhân: gãy xương, tàn phế, bầm dập, rách da, suy giảm chức năng vận động… thậm chí nạn nhân có thể bị tử vong. Về tâm lý và hành vi của nạn nhân: hoảng loạn, lo âu, buồn chán, trầm cảm, tâm thần, lạm dụng các chất kích thích, lệch lạc về hành vi. Về kinh tế: tốn kém tiền của do chi phí đề khám và điều trị bệnh tật, phải nghỉ việc nên không có nguồn thu nhập cho bản thân, gia đình và xã hội, nhà nước cần phải chi phí nhiều cho công tác tuyên truyền đẩy mạnh bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình.Về mặt xã hội: làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, ảnh hưởng đến cộng đồng, trật tự trị an. 3 Trước những tác động của nạn bạo lực gia đình, nhân viên công tác xã hội có vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ xã hội, tư vấn pháp luật, trị liệu tâm lý, tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho mỗi người dân.
Cụ thể, nhân viên công tác xã hội sẽ cung cấp đường dây nóng kịp thời, cung cấp dịch vụ tham vấn hiêu quả cho các nạn nhân bị bạo lực giới với mục tiêu giải đáp dịch vụ kịp thời và kết nối giải cứu nạn nhân bị bạo lực gia đình. Cung cấp các dịch vụ hỗ trợ toàn diện (nơi ăn ở an toàn, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ y tế, tham vấn tâm lý, hỗ trợ pháp lý,tư vấn nghề và học nghề, trị liệu tâm lý). Nâng cao kỹ năng sống, nhận thức về quyền và bạo lực giới và hỗ trợ phụ nữ ra uyết định, tự giải quyết vấn đề của mình và hồi gia bền vững.Trong rất nhiều vai trò của nhân viên công tác xã hội để trợ giúp cho phụ nữ bị bạo lực gia đình đã nêu trên, như vai trò cung cấp thông tin, vai trò kết nối, vai trò tham vấn, vai trò giáo dục,. thì vai trò tham vấn là một trong những vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực gia đình.
Vai trò này được xem là công việc chính ở các trung tâm, tổ chức để trợ giúp cho phụ nữ bị bạo lực gia đình. Vậy vai trò của NVCTXH trong hoạt động tham vấn cho phụ nữ bị bạo lực gia đình là gì và NVCTXH đã gặp khó khăn gì trong quá trình thực hiện vai trò của mình? Từ nhứng lý do trên, sinh viên đã lựa chọn đề tài “Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong hoạt động tham vấn cho phụ nữ bị bạo lực gia đình tại Ngôi nhà Bình Yên - Trung tâm phụ nữ và phát triển” (CWD) để làm khóa luận tốt nghiệp. Tổng quan vấn đề nghiên cứu: 2. Các nghiên cứu về bạo lực gia đình ở nước ngoài: Bạo lực gia đình là một hiện tượng xuất hiện trong suốt chiều dài lịch sử của thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng.
Trong thế giới đương đại, bạo lực gia đình mà đối tượng chính của nó là phụ nữ và trẻ em, vẫn tồn tại và đang có xu hướng gia tăng. 4 Theo thống kê về bạo lực đối với phụ nữ API 2015, 21% đến 55% phụ nữ Châu Á tại Hoa Kỳ báo cáo bị bạo lực thể xác và tình dục trong suốt cuộc đời của họ, dựa trên việc tổng hợp các mẫu dân tộc Châu Á trong cộng đồng địa phương. [13] Trong một cuộc khảo sát quốc gia, 18% phụ nữ Đảo Châu Á hoặc Thái Bình Dương báo cáo bị hãm hiếp hoặc rình rập bởi những người thân thiết trong cuộc đời của họ, so với 48% phụ nữ thổ dân da đỏ hoặc thổ dân Alaska, 45% phụ nữ da đen,34% phụ nữ Tây Ban Nha và 37% phụ nữ da trắng. [20] Về việc giết người liên quan đến bạo lực, trong giai đoạn 6 năm, 160 trường hợp trong các gia đình Châu Á đã gây ra 226 trường hợp tử vong, trong đó 72% là nạn nhân trưởng thành, 10% là nạn nhân trẻ em và 18% là tự tử.
83% thủ phạm giết người là nam giới, 14% là nữ giới và 3 % chưa biết. Trẻ em là nhóm nạn nhân lớn thứ hai. Thái độ đối với bạo lực, trong số 607 người được hỏi ở Châu Á, những lời giải thích hàng đầu về lí do tại sao bạo lực gia đình xảy ra đều là người chồng muốn quyền lực, thống trị, kiểm soát và nhìn chung bạo lực gia đình được coi là vấn đề cá nhân của người chồng. 22% người Campuchia, 18% người Hoa, 29% người Hàn Quốc, 5% người Nam Á và 9% đàn ông và phụ nữ Việt Nam nói rằng phụ nữ bị lạm dụng không nên nói cho ai biết về việc bị lạm dụng.