MỞ ĐẦU. 1 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA PHỤ NỮ TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH. Tổng quan tình hình nghiên cứu khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình. Một số vấn đề lý luận về khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình.
27 Chƣơng 2: TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Tổ chức nghiên cứu. Phƣơng pháp nghiên cứu lý luận. Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn.
Phƣơng pháp xử lý tài liệu. 73 Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG KHÓ KHĂN TÂM LÝ CỦA PHỤ NỮ TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH. Thực trạng bạo lực gia đình của khách thể nghiên cứu. Thực trạng khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình.
Một số yếu tố ảnh hƣởng đến khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình. Một số trƣờng hợp điển hình. Một số biện pháp tác động tâm lý nhằm khắc phục khó khăn tâm lý cho phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình. 135 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
144 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT BLGĐ : Bạo lực gia đình CLB : Câu lạc bộ CSAGA : Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Khoa học về Giới – Gia đình – Phụ nữ và Vị thành niên. ĐTB : Điểm trung bình ĐLC : Độ lệch chuẩn HB : Hòa Bình HN : Hà Nam HV : Hành vi HY : Hƣng Yên HPN : Hội phụ nữ KKTL : Khó khăn tâm lý NT : Nhận thức TĐ : Thái độ DANH MỤC BẢNG Bảng 2. Đặc điểm khách thể nghiên cứu. Các nhóm điểm của thang đo trong bảng hỏi.
Tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực tinh thần. Tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực thể chất. Tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực tình dục. Tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực kinh tế.
Tỷ lệ các nhóm phụ nữ bị các hình thức bạo lực gia đình khác nhau. Nhận thức không đúng vai trò của ngƣời phụ nữ trong gia đình đối với việc đấu tranh chống bạo lực gia đình. Nhận thức không đúng về hành vi bạo lực gia đình. Thái độ tiêu cực đối với bản thân trong đấu tranh chống bạo lực gia đình.
Thái độ từ bỏ đấu tranh chống bạo lực gia đình với mong muốn giữ gìn sự ổn định của gia đình. Thái độ thiếu tin tƣởng vào sự giúp đỡ của ngƣời thân và cộng đồng trong đấu tranh chống bạo lực gia đình. Hành vi của phụ nữ trong mối quan hệ với ngƣời xung quanh. Hành vi giải quyết vấn đề bạo lực gia đình của phụ nữ.
Đánh giá mức độ khó khăn tâm lý của phụ nữ (tính theo %). Sự khác biệt giữa các nhóm phụ nữ bị các hình thức bạo lực gia đình khác nhau. Sự khác biệt giữa các mặt biểu hiện khó khăn tâm lý của phụ nữ tham gia và không tham gia Câu lạc bộ “Cùng chia sẻ”. Sự khác biệt về khó khăn tâm lý của phụ nữ thuộc các địa bàn khác nhau.
Những khác biệt khó khăn về nhận thức trong đấu tranh chống bạo lực gia đình. Những khác biệt khó khăn về thái độ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình. Những khác biệt khó khăn về hành vi trong đấu tranh chống bạo lực gia đình. Tỷ lệ phụ nữ chứng kiến bạo lực gia đình khi còn nhỏ.
Mức độ hài lòng về cuộc sống. Sự hỗ trợ của ngƣời thân và cộng đồng đối với phụ nữ. Tỷ lệ số con của phụ nữ tham gia khảo sát. Dự báo thay đổi về khó khăn tâm lý từ thay đổi trong nhóm yếu tố chủ quan.
Dự báo thay đổi về khó khăn tâm lý từ thay đổi trong nhóm yếu tố khách quan. Cụm các yếu tố dự báo mức độ khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình. 131 DANH MỤC HÌNH VẼ - ĐỒ THỊ - BIỂU ĐỒ Hình 1. Nhận diện các giai đoạn trong chu kỳ bạo lực.
Mô hình rào cản đối với phụ nữ. Mô hình rào cản tìm kiếm sự giúp đỡ (MBHS). Phân bố điểm khó khăn tâm lý về nhận thức của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình. Phân bố điểm khó khăn tâm lý về thái độ của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình.
Phân bố điểm về khó khăn tâm lý trong thái độ (sau khi đã xử lý). Phân bố điểm khó khăn tâm lý về hành vi của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình. Phân bố điểm khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình. Nguồn hỗ trợ đƣợc phụ nữ bị bạo lực gia đình tìm kiếm.
Đánh giá mức độ khó khăn tâm lý của phụ nữ. Tƣơng quan giữa các mặt khó khăn tâm lý. Tƣơng quan giữa các biểu hiện trong từng mặt khó khăn tâm lý. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Bạo lực gia đình đối với phụ nữ là vấn đề có tính chất toàn cầu.
Hàng năm, trên thế giới có khoảng 20-50% phụ nữ bị bạo lực về thể chất do bạn tình hoặc thành viên gia đình gây ra[86]. Trƣớc năm 1993, phần lớn các Chính phủ coi bạo lực gia đình là vấn đề riêng tƣ của mỗi cá nhân. Hiện nay, thông qua các diễn đàn quốc tế và khu vực cho sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ, bạo lực gia đình đã đƣợc nhìn nhận nhƣ một trở ngại cho sự phát triển và là sự vi phạm không thể chấp nhận đƣợc đối với nhân phẩm con ngƣời[41]. Giống nhƣ nhiều quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam cũng phải đối mặt với vấn đề bạo lực gia đình.
Những năm qua, tình trạng bạo lực gia đình đã diễn ra khá phổ biến ở mọi tầng lớp nhân dân và đã có mặt ở hầu hết các vùng khác nhau trên đất nƣớc. Kết quả từ nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam (2010) cho thấy: Tỉ lệ bị bạo lực thể xác do ngƣời chồng gây ra cho phụ nữ từng kết hôn chiếm 32%, bạo lực tinh thần là 54% và bạo lực tình dục là 10%[50]. Bạo lực gia đình đã tƣớc đi của ngƣời phụ nữ sức khoẻ, tình thƣơng yêu, lòng tự tôn, làm gia đình tan nát. Không chỉ làm kiệt quệ kinh tế gia đình, bạo lực gia đình còn gây thiệt hại cho cộng đồng, xã hội, đất nƣớc ở nhiều mức độ khác nhau.
Nó làm giảm khả năng sản xuất của ngƣời phụ nữ trong gia đình và cộng đồng, làm suy giảm nguồn lực từ các dịch vụ xã hội, làm giảm khả năng học tập và giáo dục toàn diện, khả năng vận động và sáng tạo của phụ nữ, con cái và cả ngƣời gây ra bạo lực. Trong chiến lƣợc phát triển kinh tế- xã hội của đất nƣớc ta hiện nay, cùng với việc phát triển kinh tế, cải cách hành chính, giảm nghèo, thực hiện các chính sách về công bằng xã hội, Đảng và Nhà nƣớc ta rất quan tâm đến việc giải quyết nạn bạo lực gia đình. Việt Nam đã chứng tỏ cam kết của mình đối với vấn đề chấm dứt bạo lực đối với phụ nữ thông qua việc phê chuẩn một số Hiệp định quốc tế cơ bản về quyền con ngƣời. Những cam kết này đã tạo cơ sở tiền đề cho việc xây dựng các khung pháp lý và chính sách quốc gia nhằm giải quyết bạo lực đối với phụ nữ tại Việt Nam.
Năm 2006, Luật bình đẳng giới ra đời và tiếp theo là Luật Phòng, Chống bạo lực gia đình đƣợc Quốc hội thông qua năm 2007. Mặc dù Việt Nam đã 1 thể hiện cam kết cao trong việc xây dựng Luật và các chính sách đối phó với bạo lực gia đình nhƣng vẫn tồn tại khoảng trống giữa lý thuyết và thực tế triển khai. Xã hội văn minh ngày càng giải phóng ngƣời phụ nữ, công nhận quyền của ngƣời phụ nữ nhƣng trong khá nhiều gia đình, bạo lực với ngƣời phụ nữ vẫn chƣa chấm dứt. Để xây dựng một nền văn hóa mới, đạo đức mới, công bằng và dân chủ, tự chủ và văn minh thì phải đấu tranh chống lại bạo lực gia đình.
Tiếc rằng, phần lớn những phụ nữ bị bạo lực thƣờng không dám đối diện với vấn đề này. Họ vẫn thƣờng dấu kín, e ngại bày tỏ, không dám tìm kiếm sự trợ giúp. Họ cố gắng chịu đựng với mong muốn có đƣợc sự bình yên trở lại trong gia đình. Chính vì vậy mà hậu quả của bạo lực thƣờng rất nghiêm trọng.
Nguyên nhân chính của tình trạng này là do sự thiếu hiểu biết của ngƣời phụ nữ cũng nhƣ thiếu sự hỗ trợ của cộng đồng trong phòng chống bạo lực gia đình. Vì vậy, cần thiết phải thay đổi nhận thức và thái độ của xã hội từ quan niệm cho rằng bạo lực gia đình là chuyện riêng tƣ, chuyện nội bộ trong mỗi nhà sang nhìn nhận bạo lực gia đình là một sự vi phạm quyền con ngƣời và ảnh hƣởng nghiêm trọng đến nhân phẩm con ngƣời. Trong tiến trình chung của công cuộc phòng chống bạo lực gia đình, mỗi cá nhân, cơ quan, tổ chức cần có những nỗ lực trong hoạt động của mình để góp phần cải thiện tình trạng này. Đặc biệt, cần xây dựng một cơ sở dữ liệu nhằm giải quyết vấn đề bạo lực gia đình ở Việt Nam.
Thông tin và những dữ liệu từ các ban ngành liên quan có thể tạo nên một cơ sở bằng chứng vững chắc cho việc xây dựng các hoạt động nâng cao nhận thức, vận động chính sách, phát triển chƣơng trình, can thiệp và theo dõi, đánh giá công tác phòng chống bạo lực gia đình. Trƣớc đòi hỏi này, nghiên cứu ứng dụng rất có giá trị để giải quyết các vấn đề đang đặt ra cho khoa học và thực tiễn. Thời gian qua, nghiên cứu Xã hội học đã có nhiều đóng góp trong công tác Phòng, chống bạo lực gia đình. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng mức độ, nguyên nhân và hậu quả của bạo lực gia đình.
Tuy nhiên, để giảm thiểu và chấm dứt hành vi bạo lực, vấn đề cốt lõi là cần phát hiện và chỉ rõ nguyên do của những khó khăn tâm lý mà phụ nữ đang gặp phải. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Khó khăn tâm lý của phụ nữ trong đấu tranh chống bạo lực gia đình ” là rất cần thiết.