MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Trong những năm gần đây, tình trạng bắt nạt trong học đường đang diễn ra mạnh mẽ và ngày càng gia tăng cả về số lượng, hình thức, tính chất. Bắt nạt học đường đang trở thành vấn nạn đáng báo động không chỉ ở Việt Nam mà còn ở rất nhiều nước trên thế giới. Gần 90% học sinh từ lớp 3 đến lớp 6 tại Mỹ từng ít nhất một lần bị bạn học bắt nạt, ức hiếp, ngoài ra 59% thừa nhận đã từng có hành động bắt nạt những em khác.
Một nghiên cứu ở Anh ghi nhận rằng, có khoảng hơn 40% số vụ tự sát ở giới trẻ (được đăng trên phương tiện truyền thông lớn trong nước) có liên quan phần nào đến sự bắt nạt. Tại Việt Nam, cũng từng có chuyện một số em bị bắt nạt liên tục đã tự vẫn. Trong hội thảo 'Trường học an toàn, thân thiện và bình đẳng - Thực trạng và giải pháp" diễn ra tại Hà Nội ngày 26/11/2014, Viện nghiên cứu Y -Xã hội phối hợp với tổ chức từthiện Plan Việt Nam đã công bố kết quả nghiên cứu về bạo lực giới trong trường học đã có công bố kết quả nghiên cứu thực trạng bạo lực giới trong trường học ở Hà Nội.000 học sinh được khảo sát ở lứa tuổi 11-18 có tới 40% từng bị bắt nạt trong sáu tháng. Trong đó, học sinh nữ bị bạo lực tinh thần cao hơn học sinh nam và học sinh nữ ở độ tuổi 15-17 bị xâm hại, quấy rối tình dục nhiều nhất.
Có 62% học sinh nam đánh giá đường đến trường an toàn trong khi chỉ có 42% họcsinh nữ cảm thấy như vậy. Báo cáo chỉ ra điểm mới là tình trạng học sinh bị bắt nạtqua các phương tiện thông tin điện tử như facebook, tin nhắn. Cứ 100 học sinh thìcó 6 học sinh bị bắt nạt. Gần một nửa trong số các em không biết người gây ra hành vi bắt nạt qua phương tiện điện tử.
Tuy nhiên, hành động vô hình này lại gây ảnh hưởng không nhỏ đến thể chất, tinh thần ở học sinh. Theo nghiên cứu, 3/4 học sinh bị bạo lực đều cảm thấy bị ảnh hưởng về thể chất, tinh thần, thân thể, có em muốn tự tử, có em cảm thấy bị cô lập, xa lánh, có em sợ đến trường, cảm thấy buồn bã thất vọng.Như vậy, 2 trẻ bị bắt nạt có thể bị ảnh hưởng đến quá trình phát triển tình cảm và xã hội của trẻ cũng như các thành tích học tập ở trường. Bởi các em phải lo tránhkẻ bắt nạt, thay vì tập trung vào bài giảng của giáo viên hoặc bài tập. Các em có thểgiả vờ bị bệnh và đến y tá để tránh lên lớp.
Bắt nạt cũng có thể để lại hậu quả lâu dài đối với nạn nhân, như: ngại giao tiếp và có ít bạn bè. Học sinh bị bắt nạt kinh niên có thể có triệu chứng của trầm cảm và thiếu lòng tự trọng khi đã thành người lớn. Một số nạn nhân còn có xu hướng muốn tự tử thay vì cứ phải tiếp tục chịu đựng sự quấy nhiễu hay sự trừng phạt của những kẻ bắt nạt. Nhà trường, thầy cô giáo, cha mẹ và bản thân học sinh vẫn chưa biết cách phải làm gì để phát hiện sớm và ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng từ những hành vi bắt nạt tưởng chi là “trò đùa” nêu trên.
Bắt nạt được coi là một trong những vấn nạn của giáo dục Việt Nam hiện nay. Điều này đã và đang là hồi chuông khẩn thiết cảnh báo sự xuống cấp của các giá trị đạo đức và văn hóa Việt Nam, ảnh hưởng nghiêm trọng tới cả một thế hệ trẻ, ảnh hưởng đến tương lai của đất nước, dân tộc. Hành vi bạo lực mang lại nhiều hậu quả cho chính bản thân người gây ra hành bạo lực, người bị bạo lực, gia đình, nhà trường và toàn xã hội. Chính vì vậy mà ngành giáo dục cùng các cấp, các ngành đã có nhiều giải pháp để ngăn chặn tình trạng bắt nạt song kết quả thu được vẫn chưa cao, công tác thực hiện vẫn chưa triệt để.
Bến Tre là một tỉnh của Đồng bằng Sông Cửu Long, là vùng kinh tế đang phát triển năng động trong cả nước. Hiện nay trên địa bàn tỉnh nói chung và huyện Mỏ Cày Bắc nói riêng, ngành giáo dục cũng đang đối mặt với vấn đề liên quan đến bạo lực trong học đường. Do vậy, yêu cầu đặt ra là cần có những biện pháp để phòng ngừa, ngăn chặn và giải quyết vấn nạn này. Trong đó công tác xã hội học đường được xem là một trong những biện pháp can thiệp hữu hiệu, cần được đưa vào trường học và đẩy mạnh 3 thực hiện.
Thông qua hoạt động trợ giúp của nhân viên công tác xã hội học đường sẽ giúp cho các học sinh phòng ngừa, ngăn chặn và có giải pháp giải quyết vấn nạn này một cách lâu dài, tiến tới xây dựng một môi trường học tập lành mạnh, an toàn, thân thiện. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, chưa có các nghiên cứu đề cập đến vai trò của các nhân viên công tác xã hội trong hỗ trợ học sinh bị bắt nạt, đặc biệt là trên địa bàn huyện Mỏ Cày Bắc- tỉnh Bến Tre. Những vấn đề trên đã gợi mở trong tôi hướng nghiên cứu đề tài“ Vai trò của nhân viên công tác xã hội với việc hỗ trợ học sinh bị bắt nạt” điển cứu tại huyện Mỏ Cày Bắc-tỉnh Bến Tre. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2.
Những nghiên cứu về học sinh bị bắt nạt trên thế giới Bắt nạt xảy ra đang ngày một tăng cao trên khắp quốc gia trên thế giới, là một vấn nạn chung, xảy ra ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới. Đây cũng là chủ đề mà nhiều nước trên thế giới đang nghiên cứu để ngăn chặn. * Nghiên cứu về thực trạng bắt nạt: Các nhà khoa học trên thế giới đã bắt đầu nghiên cứu đến hiện tượng bắt nạt từ thập niên 70, với nghiên cứu đầu tiên của Tiến sĩ Dan Olweus, một nhà khoa học Na Uy, được xem như người mở đường và là “cha đẻ” của các nghiên cứu về vấn đề bắt nạt và ngược đãi. Olweus định nghĩa theo một cách chung nhất, bắt nạt trong trường học như một “hành vi tiêu cực được lặp đi lặp lại, có ý định xấu của một hoặc nhiều học sinh nhằm trực tiếp chống lại một học sinh, người có khó khăn trong việc tự bảo vệ bản thân”.
Đa số bắt nạt xảy ra ở những học sinh có vẻ ngoài không hề bộc lộ một sự khiêu khích hay xui giục. Trong cuốn sách “Bắt nạt ở trường học, chúng ta biết gí và chúng ta có thể làm gì” (1993), tiến sĩ Olweus đã chỉ ra đặc điểm của phần lớn những học sinh có thể là người đi bắt nạt và đặc điểm của những học sinh có nguy cơ là nạn nhân của bị bắt nạt. 4 Năm 2001 một nghiên cứu được thực hiện bởi Tiến sĩ tâm lý Tonja Nansel và đồng nghiệp chỉ ra rằng trong số hơn 15000 học sinh Mỹ từ lớp 6 đến lớp 10 có khoảng 17% học sinh cho biết các em thỉnh thoảng hoặc thường xuyên bị bắt nạt trong cả năm học. Gần 19% cho rằng các em thỉnh thoảng hoặc thường xuyên bắt nạt các bạn khác và 6% nói rằng họ vừa đi bắt nạt người khác vừa là nạn nhân của bắt nạt.
Rõ ràng là trẻ trai bắt nạt người khác nhiều hơn trẻ gái, và một tỉ lệ lớn các bé gái – khoảng 50% - nói rằng chúng thường bị bắt nạt bởi các bạn trai. Mặc dù bắt nạt là một vấn đề lớn giữa những cậu con trai, nhưng nó cũng xảy ra tương đối nhiều giữa các cô gái. Bắt nạt về mặt thể chất it phổ biến giữa các cô gái hơn, họ thường dùng những cách như: cô lập một người trong nhóm, loan tin đồn trong một thời gian dài, lôi kéo các bạn bè khác đứng về phía họ…Một vài hình thức bắt nạt khác đôi khi cũng gây tai hại và sầu não như các hình thức công kích trực tiếp và công khai. Những nghiên cứu gần đây càng cho thấy sự phức tạp và mối nguy hại của những hành vi bắt nạt ở tuổi học trò.
Khoảng 22,6% trẻ mẫu giáo bị bắt nạt từ mức độ trung bình đến nặng, khoảng 10% trẻ từ 8 đến 12 được bạn cùng lớp xem là “nạn nhân thường xuyên” của bắt nạt (Brock, 2005). Bắt nạt không chỉ gây hậu quả xấu cho nạn nhân trong thời điểm bị bắt nạt (Claghan & Joseph, 1995); Olweus, 1993, 1997; Rigby, 1998; Slee, 1996), mà còn gây hậu quả về mặt phát triển cảm xúc sau này của trẻ (Kochenderfer & Ladd, 1996; Olweus, 2001). Bắt nạt đã làm cho môi trường học tập trở nên không an toàn. Nhiều em cảm thấy sợ hãi khi đi đến trường và ở trường tới mức các em nghỉ học ít nhất một lần trong tháng.
56% nam va 33% nữ cho biết là các em sợ hãi khi trở thành nạn nhân của bắt nạt. 16% nữ va 21% nam đem vũ khí đi để phòng vệ. Chính những nỗi sợ hãi về bắt nạt đã thúc đẩy các em làm như vậy (Noaks & Noaks 2000). Nạn nhân của bắt nạt và bắt nạt bị ảnh hưởng cả về mặt học tập lẫn xã hội.
Nạn nhân thường có điểm tự đánh giá bản thân thấp hơn và mức độ lo âu 5 và trầm cảm cao hơn so với nhóm không phải là nạn nhân (Gilmartin). Nạn nhân không chỉ bị tấn công mà các em cũng bị cô lập với các bạn (Bulack, Fulbright and Williams 2003). Là nạn nhân bạo hành cũng có nhiều khả năng sẽ trở thành người bạo hành trong tương lai (Osofsky 2001). Brockenbrough (2002) nghiên cứu về nạn nhân bị bạo hành, nghiên cứu cho thấy những sinh viên vừa bị bạo hành vừa có thái độ hung dữ (hung tính), có nhiều hành vi có nguy cơ cao nhất so với bạn cung lứa.
Hành vi có nguy cơ như: sử dụng vũ khí, sử dụng rượu và thuốc phiện, tham gia băng nhóm và đánh nhau ở trường. Bắt nạt học đường cũng gây ra những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế. Phí này bao gồm: chăm chữa về tinh thần và thể chất, phí công an, tài sản bị hư hại, phí bắt giữ, phí cai nghiện, phí do bỏ học và lớn lên không có việc…(Bagley & Pritchard, 1998). Bắt nạt có ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm thần: Trong các mẫu chọn học sinh trung đã kiểm tra tại Istabul, Thổ Nhĩ Kỳ, tỷ lệ bị bắt nạt cao và liên quan đến biểu hiện của trầm cảm.
Sự tiếp tục trải nghiệm bạo lực va căng thẳng trong các mối quan hệ xã hội sẽ dẫn đến các biểu hiện tâm thần.