MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hiện nay, việc nuôi dƣỡng và dạy dỗ cho đối tƣợng trẻ em đang là vấn đề đƣợc coi trọng và ngày càng lớn hơn. Vì trẻ em từ xƣa đến nay luôn xem đây là thế hệ tƣơng lai, là mầm xanh của đất nƣớc, trẻ em ngày nay luôn đƣợc quan tâm nuôi dạy tốt hơn, đƣợc chăm sóc cả về vật chất lẫn tinh thần, Nhà nƣớc ta luôn xem trẻ em là thế hệ sẽ nối tiếp ông, cha để xây dựng đất nƣớc ngày càng giàu mạnh hơn trong tƣơng lai. Vì lẽ đó, trẻ em luôn đƣợc tạo mọi điều kiện tốt nhất để học tập trong môi trƣờng giáo dục, môi trƣờng xã hội để trẻ em có thể hoàn thiện hơn về nhân cách và phát triển một cách khỏe mạnh, thông minh.
Trên thế giới và cả Việt Nam hiện nay đang trong giai đoạn già hóa dân số dẫn đến lực lƣợng lao động bị suy giảm ngày một nhiều, từ đó thế hệ trẻ em rất đƣợc quan tâm, đây là mầm xanh của đất nƣớc, luôn cần sự quan tâm chăm sóc của gia đình, nhà trƣờng và xã hội để trẻ phát triển một cách bình thƣờng và khỏe mạnh, trẻ phải đƣợc chăm sóc thật tốt từ vật chất lẫn tinh thần, có môi trƣờng sống lành mạnh để trẻ đƣợc phát triển một cách đầy đủ, chăm lo cho trẻ em là chăm lo cho tƣơng lai của đất nƣớc. Nƣớc ta luôn quan tâm chăm lo cho thế hệ trẻ em, từ trẻ em khỏe mạnh đến những trẻ khuyết tật (TKT), trẻ em khuyết tật vận động (TEKTVĐ), trẻ em có những hoàn cảnh thật sự khó khăn, đƣa ra nhiều chính sách nhằm mục đích giúp cho trẻ em nói chung đều có đƣợc cuộc sống ấm no, hạnh phúc, không bị phân biệt hay kỳ thị, đƣợc hƣởng nhƣ nhau các quyền mà trẻ em đƣợc hƣởng, thông qua việc ban hành các văn bản, chính sách nhƣ: Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung năm 2011 tại Điều 59 có quy định: “Nhà nƣớc và xã hội tạo điều kiện cho trẻ em khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn khác đƣợc học văn hoá và học nghề phù hợp”; Luật ngƣời khuyết tật năm 2010 có các quy định “Ƣu tiên thực hiện chính sách bảo trợ xã hội và hỗ trợ ngƣời khuyết tật là trẻ em”, “Ƣu tiên khám bệnh, chữa bệnh cho ngƣời khuyết tật đặc biệt nặng, ngƣời khuyết tật nặng, trẻ em khuyết tật”, “Tƣ vấn biện pháp phòng ngừa và phát hiện sớm khuyết tật bẩm sinh đối với trẻ em sơ sinh để kịp thời có biện pháp điều trị và chỉnh hình, phục hồi chức năng phù hợp”; Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, tại Điều 52 quy định: “Trẻ em khuyết tật, tàn tật, trẻ em là nạn nhân chất độc hoá học đƣợc gia đình, nhà nƣớc và xã hội giúp đỡ, chăm sóc, tạo điều kiện để sớm phát hiện bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng, đƣợc nhận vào các lớp học hoà nhập, lớp học dành riêng cho trẻ khuyết tật, tàn tật. Đƣợc giúp đỡ học văn hoá, học nghề và tham gia hoạt động xã hội”…. Nhƣ vậy, Hiến pháp, Luật và các văn bản pháp luật liên quan đến TKT là cơ sở pháp lý quan trọng, cụ thể hóa quan điểm, đƣờng lối chủ trƣơng của Đảng, nhà nƣớc về chăm sóc, phát huy vai trò TKT; là căn cứ để các cấp chính quyền, các ngành, các cấp đẩy mạnh công tác chăm sóc TKT nói chung và TEKTVĐ nói riêng trong giai đoạn phát triển của đất nƣớc.
Hiện nay Công tác xã hội (CTXH) là một nghề mà có rất nhiều nƣớc công nhận. CTXH góp phần vào việc chăm lo cho xã hội hƣớng đến những điều tốt đẹp và hạnh phúc cho con ngƣời nói chung và trẻ em nói riêng, những ngƣời làm nghề CTXH là những ngƣời đƣợc đào tạo bài bản và chuyên nghiệp với mục đích hỗ trợ cho các đối tƣợng yếu thế trong xã hội trong đó có TEKTVĐ, giúp cho những đối tƣợng yếu thế này bắt kịp với nhịp sống của xã hội và không bị bỏ lại phía sau. Phần lớn các mối quan hệ xã hội đều cần đến các nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) nhằm để giải quyết các vấn đề khó khăn, vƣớng mắc trong mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời trong xã hội, giúp cho xã hội ngày một ổn định hơn. Với diện tích 71,10 km2 và 128.269 ngƣời, thành Phố Bến Tre là trung tâm chính trị, kinh tế, xã hội của tỉnh Bến Tre, bên cạnh đó tỷ lệ ngƣời yếu thế đặc biệt là trẻ em khuyết tật tƣơng đối nhiều mà đặc biệt là trẻ em khuyết tật vận động.
Tính đến hiện tại, theo số liệu báo cáo của phòng Lao động – thƣơng binh và xã hội (LĐTBXH) thành phố và Hội Bảo trợ Ngƣời tàn tật và trẻ mồ côi thành phố thì thành phố Bến Tre hiện có 4.229 ngƣời khuyết tật. Trong đó, số ngƣời khuyết tật vận động 1.325 ngƣời, trẻ em khuyết tật vận động là 85 trẻ. Vấn đề khó khăn của trẻ khuyết tật nói chung và trẻ em khuyết tật vận động nói riêng luôn đƣợc quan tâm, thành phố Bến Tre luôn thực hiện các chính sách trợ giúp cho các đối tƣợng trẻ em khuyết tật vận động và xem đây là một trong những nhiệm vụ lớn. Để việc chăm sóc cho trẻ em khuyết tật vận động đƣợc đảm bảo thì rất cần có sự tham gia của cộng đồng, xã hội và đặc biệt là của của nhân viên công tác xã hội.
NVCTXH góp phần nắm bắt đƣợc những khó khăn và tìm ra đƣợc các nhu cầu cần thiết của trẻ em, từ đó đề xuất những giải pháp cụ thể, thiết thực để chăm sóc TEKTVĐ phù hợp với địa bàn thành phố Bến Tre. Đó là lý do tôi chọn đề tài: “Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc hỗ trợ trẻ em khuyết tật vận động tại thành phố Bến Tre” để nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ, với mong muốn đóng góp một phần 2 vào việc hỗ trợ và chăm lo cho trẻ em nói chung và trẻ em khuyết tật vận động nói riêng có đƣợc cuộc sống tốt hơn và đảm bảo đầy đủ các chính sách hỗ trợ mà trẻ em đƣợc hƣởng theo quy định, tạo sự công bằng trong xã hội. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 2.
Nhóm nghiên cứu liên quan đến trẻ khuyết tật Theo nghiên cứu “Families of children with disabilities: Positive adaptation across the life cycle – Gia đình trẻ của trẻ em khuyết tật: sự thích ứng tích cực qua vòng đời”, của các tác giả Bennett, T. W, (1996), nghiên cứu về vai trò của NVCTXH về việc hỗ trợ trẻ em khuyết tật và gia đình của trẻ em khuyết tật giúp cho họ dần thích nghi với môi trƣờng sống trong từng hoàn cảnh khác nhau. Mỗi gia đình đều có những nhu cầu riêng của họ, từ đó NVCTXH đóng vai trò hỗ trợ cho gia đình và trẻ em khuyết tật đảm bảo đầy đủ các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống. Nhân viên công tác xã hội còn là ngƣời kết nối gia đình trẻ khuyết tật với các dịch vụ cần thiết sẵn có.
Ngoài ra, nhân viên công tác xã hội là nhà giáo dục, thiết kế các chƣơng trình giáo dục dành riêng cho các thành viên trong gia đình, bạn bè và các nhà chuyên môn (Bennett, T. Theo tài liệu hội thảo của Tổ chức Y tế Thế giới (năm 2012) “Early Childhood Development and Disability – Khuyết tật và sự phát triển của trẻ thơ”, từ trƣớc khi sinh đến 8 tuổi là khoảng thời gian quan trọng của sự tăng trƣởng và phát triển. Sự phát triển của một con ngƣời là do quá trình không ngừng học tập và tích lũy những kinh nghiệm trong cuộc sống. Trẻ em nếu đƣợc quan tâm chăm sóc chu đáo sẽ giúp cho trẻ có sự phát triển đầy đủ về thể chất và trí não khi lớn lên sẽ phát huy hết sức mạnh của bản thân.
Hiện tại trẻ em khuyết tật chƣa nhận đƣợc sự hỗ trợ cụ thể nào từ các chƣơng trình và dịch vụ phù hợp nhằm đáp ứng về nhu cầu của trẻ em, còn tình trạng trẻ em bị phân biệt đối xử, kì thị… là những rào cản mà trẻ khuyết tật và gia đình đang phải đối mặt. Khi trẻ khuyết tật và gia đình không đƣợc hỗ trợ, can thiệp sớm thì những khó khăn của họ sẽ ngày càng nghiêm trọng, thƣờng dẫn đến hậu quả suốt đời, gia tăng nghèo đói và không thể hòa nhập vào xã hội (World Health Organization, 2012). Theo báo cáo “The state of the world’s children 2013 - Tình hình trẻ em thế giới năm 2013” của United Nations Children’s Fund (UNICEF) chỉ ra rằng trẻ khuyết 3 tật là nhóm trẻ ít đƣợc chăm sóc sức khỏe và ít đƣợc đi học nhất. Nhiều trƣờng hợp trẻ em không có quyền tự quyết về tƣơng lai, bị bỏ rơi từ khi mới sinh ra, thiếu sự chăm sóc từ các dịch vụ xã hội mà trẻ có thể đƣợc hƣởng.
Thời gian qua đối tƣợng trẻ khuyết tật vận động thƣờng là đối tƣợng dễ bị bỏ rơi, bị bạo hành nên đây làm nhóm đối tƣợng dễ bị tổn thƣơng về thể xác và tinh thần. Các nhu cầu dịch vụ xã hội đều bị hạn chế đáng kể nhƣ giáo dục và y tế khó đƣợc tiếp cận. Bên cạnh đó còn có sự phân biệt giữa trẻ em khuyết tật nam và trẻ em khuyết tật nữ, trẻ em nam thì đƣợc chăm sóc chu đáo hơn trẻ em nữ, điều đó chỉ ra rằng, trẻ em khuyết tật bị mất đi sự công bằng và trẻ em khuyết tật là đối tƣợng đƣợc xem là yếu thế nhất trong xã hội (UNICEF, 2013). Nhóm nghiên cứu liên quan đến chăm sóc trẻ khuyết tật Các tác giả Maureen D’Eath, Jane Sixsmith, Roseanne Cannon and Louise Kelly, (5/2005) có nghiên cứu “The Experience of People with Disabilities in Accessing Health Services in Ireland: Do inequalities exist? – Trải nghiệm của người khuyết tật khi tiếp cận các dịch vụ y tế tại Ireland: có tồn tại sự bất bình đẳng không?”, đề tài tiến hành điều tra kinh nghiệm của ngƣời khuyết tật trong việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế.
Nghiên cứu cho thấy ngƣời khuyết tật gặp khó khăn trong việc lựa chọn cơ sở y tế đáp ứng đúng với nhu cầu chữa trị của họ, họ không đƣợc cung cấp thông tin đầy đủ về dịch vụ điều trị. Trẻ em khuyết tật thƣờng không đƣợc chăm sóc và bảo vệ đầy đủ, điều đó làm ảnh hƣởng đến quá trình phục hồi về thể chất cũng nhƣ tinh thần của trẻ (Maureen D’Eath, Jane Sixsmith, Roseanne Cannon and Louise Kelly, 2005). Nghiên cứu “Health Insurance and Children with Disabilities – Bảo hiểm y tế và trẻ em khuyết tật” của Peter G vào năm 2005.