MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Với tốc độ phát triển của xã hội ngày, công tác giảm nghèo (CTGN) là vấn đề đặt ra và cần giải quyết triệt để của mỗi quốc gia và của cả thế giới. Việt Nam là một nước có mức thu nhập thấp, có tỷ lệ hộ nghèo khá cao, từ đó chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo của Chính phủ là một trong các giải pháp trọng tâm để đẩy lùi đói nghèo và theo kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển trên thế giới. Qua việc triển khai thực hiện chương trình Quốc gia về giảm nghèo đã từng bước nâng cao thu nhập cho hộ nghèo có cuộc sống ổn định, vươn lên làm giàu chính đáng, góp phần phát triển kinh tế bền vững và ổn định chính trị xã hội.
Mục tiêu giảm nghèo bền vững cần khẳng định đến các yếu tố như: Tự vươn lên của người nghèo, liên kết các mối quan hệ xã hội lành mạnh, giảm khoảng cách giữa người giàu với người nghèo, hạn chế và từng bước xóa bỏ tệ nạn xã hội khác. Trong thời gian qua, theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (World Bank), Việt Nam đã đạt được thành tựu to lớn trong công cuộc giảm nghèo, khoảng hơn 30 triệu người đã thoát nghèo (từ năm 1990-2010). Năm 2015, Việt Nam phấn đấu đạt mục tiêu giảm nghèo theo Nghị quyết số 10/2011/QH13 của Quốc hội, giảm tỷ lệ hộ nghèo trong cả nước còn dưới 5%, các huyện nghèo còn dưới 30%. Cùng với những kết quả đạt được, trong thời gian tới cần tập trung xem xét và rà soát để loại bỏ các chính sách không còn phù hợp và thay vào chính sách mới đảm bảo với xu thế phát triển hiện nay; Huy động các nguồn lực hỗ trợ công tác giảm nghèo, phát huy hiệu quả các nguồn lực, hạn chế việc trông chờ vào ngân sách từ Trung ương.
Trong giai đoạn 2011-2015, nước ta phải đối mặt với các thách thức mới trong công cuộc giảm nghèo như: Nghèo đói phân bố tập trung chủ yếu ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội chậm phát triển, trình độ học vấn thấp và mức độ giảm nghèo diễn ra chậm hơn so với những năm trước đó; Các nguồn hỗ trợ ưu đãi bị cắt giảm khi Việt Nam được loại ra khỏi danh sách các nước có mức thu nhập thấp; Biến đổi khí hậu đã tác động lớn đến sản xuất kinh doanh, trong đó chủ yếu là ngành nông nghiệp, ngành tạo thu nhập chủ yếu cho đại đa số người dân sinh sống ở nông thôn. Để đối phó với các thách thức này, Việt Nam cần phải tập trung mọi nguồn lực để xây dựng một chiến lược giảm nghèo đa 1 chiều với phương pháp tăng cường mạnh mẽ tiếng nói và ý thức tham gia tích cực của người nghèo. Công tác xã hội (CTXH) là một môn khoa học và là một nghề mới ở Việt Nam và nó đã khẳng định được vị trí quan trọng trong quá trình tạo ra sự công bằng, bình đẳng, tiến bộ, giúp con người nâng cao sự nhận thức, cải thiện kỹ năng và đạt được cuộc sống hạnh phúc hơn. Đối với công cuộc giảm nghèo, CTXH đã phát huy mạnh mẽ chức năng, vai trò của mình trong việc kết nối nguồn lực góp phần điều phối các dịch vụ nhằm đảm bảo tính toàn diện, phù hợp và bền vững từ các chính sách trong công tác giảm nghèo.
Xuất phát từ thực tế tại địa phương, kết nối các nguồn lực là việc chưa được chú trọng hoặc chưa được phân công cụ thể, việc vận dụng giữa chính sách và nguồn lực còn nhiều hạn chế; chức năng và nhiệm vụ trong chính sách giảm nghèo còn chồng chéo; nhiều bộ ngành thực hiện nhiều chính sách dàn trải, mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cùng tham gia nhưng chưa sâu sát, từ đó hiệu quả sử dụng nguồn lực kết quả không cao. Song song đó, việc liên kết giữa các phường xã trên địa bàn trong phát triển kinh tế - xã hội cũng gặp nhiều khó khăn do có sự khác biệt về dân số, mô hình kinh tế, đặc thù địa phương đã tác động đến CTGN chưa mang tính bền vững. Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, cùng với xuất phát điểm kinh tế - xã hội thấp, đất sản xuất nông nghiệp ít, trình độ học vấn ở một số địa bàn còn hạn chế nên quá trình giảm nghèo diễn ra chậm, một số phường xã chưa có mô hình giảm nghèo tốt… là những rào cản đáng ngại trong công cuộc giảm nghèo bền vững tại địa phương. Do đó, cần nhiều phương pháp trợ giúp và cách thức tiếp cận hiệu quả hơn.
Từ những hạn chế đó, tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài:"Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong việc kết nối nguồn lực cho người nghèo tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang" với mong muốn sẽ mang đến góc nhìn mới về CTGN đó là vai trò kết nối nguồn lực trong CTXH và góp phần thúc đẩy giảm nghèo một cách bền vững trong thời gian tới. Tổng quan nghiên cứu 2. Các nghiên cứu về đói nghèo, xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam Trong đề tài “Cuộc chiến chống nghèo đói thực trạng và giải pháp” tác giả nhận thấy tín dụng ưu đãi là biện pháp bước đầu có tác dụng mạnh trong việc trợ giúp 2 thoát nghèo. Tuy nhiên, chưa mang tính bền vững cao, cần phải thay đổi cơ chế, từng bước chuyển dần từ sự ưu đãi, bao cấp (lãi suất thấp, không phải thế chấp) sang phương thức tín dụng gắn với tiết kiệm, hạn chế rủi ro cho người nghèo và nhất là cung cấp tín dụng kịp thời (Nguyễn Hữu Hải, 2005).
Tác giả cũng đề xuất từng bước nâng lãi suất theo cơ chế thị trường, đối với các xã khó khăn có thể tiếp tục áp dụng lãi suất ưu đãi kéo dài thời gian, đối với các đơn vị có điều kiện phát triển hơn thì cho vay hộ nghèo với lãi suất thương mại, tiếp tục kết hợp vay vốn với tiết kiệm, hộ trợ đào tạo nghề và chuyển giao khoa học kỹ thuật. Với nghiên cứu “Định hướng tiếp cận giải quyết vấn đề về nghèo đói của nước ta”, (2005) Nguyễn Hữu Hải một lần nữa đã khẳng định nghèo đói là vấn đề toàn cầu, không một quốc gia nào giải quyết triệt để được. Đồng thời, khẳng định Việt Nam đạt được những thành tựu trong công cuộc xóa đói giảm nghèo (XĐGN), đó là một thành công lớn và quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, các xã nghèo, khó khăn có sự thay đổi lớn, nhất là đầu tư kết cấu hạ tầng và chuyển đổi ngành nghề, đời sống của người nghèo từng bước được nâng lên, cụ thể là nhóm hộ nghèo, phụ nữ, đồng bào dân tộc thiểu số (thu nhập tăng đến 21%, đời sống sinh hoạt được cải thiện toàn diện (thu nhập, sức khỏe, đi lại, học hành,…). Từ đó, tạo được sự đồng thuận cao trong các các nhóm xã hội, tầng lớp dân cư.
ên cạnh những kết quả đạt được, tác giả còn nhận thấy những hạn chế, khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện chương trình XĐGN như: Trung ương bố trí nguồn kinh phí còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra, một số chính sách hỗ trợ chưa phù hợp với hoàn cảnh tực tế của người nghèo, các kênh theo dõi, giám sát chương trình chưa có hệ thống, đội ngũ, cán bộ, công chức chuyên trách còn hạn chế về năng lực, trình độ để thực hiện chương trình. Trong báo cáo “Giảm nghèo ở Việt Nam về Thành tựu và thách thức” (năm 2011) của nhóm nghiên cứu Viện Khoa học xã hội Việt Nam gồm tác giả Nguyễn Thắng (Trưởng nhóm) cùng với các đồng sự Nguyễn Thị Thu Phương, Trần Ngô Minh Tâm, Lê Đặng Trung và Nguyễn Thị Thu Hằng thực hiện. Kết quả nghiên cứu: Thứ nhất, nêu ra những thành tựu đột phá trong công tác giảm nghèo của Việt Nam trong hai thập kỷ qua, song tiến độ thực hiện không đồng đều và chưa mang tính bền vững giữa các nhóm dân cư và vùng miền. Theo đó, tác giả đưa ra nhận định cần 3 có các chính sách cụ thể hơn, cần chú trọng về các đặc thù của từng nhóm dân cư mới có thể đạt hiệu quả cao trong giảm nghèo.
Thứ hai, tác giả phân tích những cơ hội và thách thức khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đưa ra các đánh giá về tác động đến nghèo đói và sự bất bình đẳng trong xã hội Việt Nam. Thứ ba, tác giả chỉ ra các thách thức trong công tác giảm nghèo đối với nhóm dân tộc thiểu số, nghèo ở đô thị, tình trạng gia tăng bất bình đẳng trong xã hội và tình hình biến đổi khí hậu hiện nay ảnh hưởng đến nghèo đói chưa được giải quyết hoặc giải quyết chưa hiệu quả, chưa bền vững. Theo đó, nghèo đói thường được diễn tả như tình trạng các cá nhân, hộ gia đình và nhóm dân cư thiếu hụt các nguồn lực để tạo ra nguồn thu nhập nhằm duy trì mức tiêu dùng vừa đủ đáp ứng các nhu cầu cơ bản cho một cuộc sống hàng ngày đầy đủ. Với cách tiếp cận này, nghèo đói là tình trạng thiếu vật chất, theo từng khu vực người nghèo sinh sống, là những nơi thường nước sạch, thiếu điện, không có nhà vệ sinh riêng và các dịch vụ xã hội cơ bản khác.
Ở nơi này, khi hộ gia đình có điều kiện về kinh tế đủ chi trả cho những dịch vụ trên cũng có thể gặp khó khăn về việc cung cấp, thiếu vật chất còn ở khía cạnh địa lý. Mặc dù thước đo đói nghèo thường được được đánh giá trong tiêu dùng và thu nhập, thì đói nghèo còn thể hiện ở sự bất bình đẳng, ở đâu bất bình đẳng tăng thì tỷ lệ nghèo tỷ lệ thuận với nó. Giới là một trong những yếu tố quyết định sự bất bình đẳng về thu nhập và tiêu dùng, giữa các hộ gia đình, khi phụ nữ và đàn ông có quyền kiểm soát thu nhập và của cải. Do đó, giảm nghèo trong hoạch định chính sách không làm giảm bất bình đẳng về giới.
Các nghiên cứu về giảm nghèo ở khu vực ngƣời dân khó khăn ài viết “Công tác xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thực trạng và giải pháp” (năm 2005) của tác giả Lê Ngọc Thắng đã nêu XĐGN là một trong những nội dung trọng tâm trong chính sách dân tộc. Ở các quốc gia chậm phát triển, đang diễn ra trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì vấn đề nghèo đói của các quốc gia nói chung và ở vùng dân tộc thiểu số nói riêng luôn là vấn đề cấp thiết đặt ra.