CHƯƠNG 1. 39 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN. Khái quát chung về địa bàn và khách thể nghiên cứu. Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu.
Khái quát chung về khách thể nghiên cứu. Thưc trạng việc thực hiện một số vai trò của nhân viên công tác xã hội trong phòng, chống bạo lực gia đình. Vai trò người cung cấp thông tin, truyền thông. Vai trò người kết nối.
Vai trò người chăm sóc. Vai trò người trợ giúp pháp lý. Vai trò người vận động nguồn lực. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các vai trò của nhân viên công tác xã hội trong phòng, chống bạo lực gia đình.
Trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức của đội ngũ làm công tác xã hội. Nhận thức của người dân trong cộng đồng về BLGĐ và CTXH trong phòng, chống BLGĐ. Chính sách, pháp luật của Nhà nước về CTXH trong phòng chống BLGĐ. Điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước và những chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước đối với phát triển nghề công tác xã hội.
Sự tham gia của Gia đình có bạo lực. Nhận thức của cán bộ chính quyền địa phương và các ban ngành, đoàn thể về vai trò của công tác xã hội trong phòng chống BLGĐ. 80 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2. 83 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ.
Một số giải pháp góp phần thực hiện tốt vai trò của nhân viên CTXH trong phòng chống BLGĐ trên địa bàn huyện Phú Bình. Nâng cao nhận thức của cán bộ và người dân về BLGĐ và vai trò CTXH trong phòng chống BLGĐ. Xây dựng đội ngũ nhân viên CTXH chuyên nghiệp và phát triển đội ngũ cộng tác viên CTXH tại địa phương. Tổ chức các lớp tập huấn bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng CTXH trong lĩnh vực phòng, chống BLGĐ cho đội ngũ NVXH chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp.
Xây dựng mạng lưới, phát huy vai trò của cộng đồng trong phòng, chống bạo lực gia đình. Hoàn thiện cơ sở pháp lý để xác định rõ trách nhiệm và quyền hạn của nhân viên công tác xã hội nói chung, trong phòng chống BLGĐ nói riêng. Đối với nhà nước. Đối với UBND huyện và các cơ quan chức năng.
91 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3. 93 PHẦN KẾT LUẬN. 94 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC IV DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT CTXH: Công tác xã hội BLGĐ: Bạo lực gia đình TGPL:Trợ giúp pháp lý PCBLGĐ:Phòng, chống bạo lực gia đình V DANH MỤC BẢNG, BIỂU Biểu 2. Tình hình BLGĐ tại địa phương.
Tần suất bị bạo lực gia đình. Nguyên nhân của bạo lực gia đình.4 : Kênh các văn bản pháp luật về phòng chống BLGĐ. Nhân viên CTXH. Đặc điểm khách thể nghiên cứu.
Mức độ hiểu biết các văn bản pháp luật về bạo lực gia đình. Tính cấp thiết của đề tài Hiện trạng bạo lực gia đình (BLGĐ) trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đã và đang là vấn đề quan tâm của toàn xã hội. Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới, cứ ba phụ nữ thì có một phụ nữ đang phải chịu sự đánh đập, cưỡng bức hoặc bị ngược đãi ít nhất một lần trong đời bởi chính người chồng của họ. Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Việt Nam do Tổng cục thống kê và Liên hợp quốc tại Việt Nam công bố vào năm 2010 cho thấy mức độ nghiêm trọng của vấn đề.
Có tới 58% phụ nữ từng kết hôn cho biết đã trải qua ít nhất một hình thức bạo lực về thể xác, tình dục hay tinh thần. Bạo lực gia đình là một vấn nạn xã hội để lại hậu quả nghiêm trọng về thể chất, tâm lý; gây tổn thất về kinh tế không chỉ cho bản thân người bị bạo lực mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến gia đình và toàn xã hội. Nhận thức được hậu quả nghiêm trọng của BLGĐ, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã giành nhiều sự quan tâm tới việc phòng chống bạo lực gia đình và đã ban hành nhiều đạo luật trực tiếp và gián tiếp như: Hiến pháp; Bộ luật dân sự; Luật bình đẳng giới; Luật hôn nhân và gia đình; Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em… đặc biệt Luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 đã tạo hành lang pháp lý cũng như môi trường thuận lợi để phòng chống bạo lực gia đình. Tiếp sau việc thông qua đạo luật này, nhiều nghị định, thông tư chiến lược và kế hoạch hành động đã được xây dựng để hướng dẫn thực hiện luật.
Nhưng đánh giá một cách khách quan thì các văn bản pháp luật này chưa thực sự đi vào cuộc sống, sự quan tâm và hiểu biết về bạo lực gia đình chưa đi vào chiều sâu, tình trạng bạo lực gia đình chưa có nhiều thay đổi và chuyển biến tích cực. 2 Theo kết quả điều tra bạo lực gia đình ở Việt Nam năm 2012 của Bộ Văn hóa thể thao và du lịch cho thấy bạo lực gia đình xảy ra ở khắp các quốc gia trên thế giới với những mức độ và đối tượng khác nhau, nạn nhân chủ yếu là nữ giới. Các kết quả nghiên cứu đều thống nhất chỉ ra nguyên nhân gốc rễ của bạo lực gia đình là sự bất bình đẳng về quyền lực, về tiếng nói, và sự kiểm soát nguồn lực giữa nam giới và nữ giới. Và các yếu tố khác như: kinh tế khó khăn, lạm dụng rượu bia, ma túy, thiếu các kỹ năng ứng xử, giải quyết trong gia đình… cũng là những yếu tố làm gia tăng bạo lực gia đình.
Bạo lực gia đình đã gây ra những đau khổ và thiệt hại cả về vật chất và tinh thần. Phú Bình là một huyện trung du của tỉnh Thái Nguyên, nằm ở phía nam của tỉnh, trung tâm huyện cách thành phố Thái Nguyên 26 km, cách thị xã Bắc Ninh 50km. Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 243. Toàn huyện có 20 đơn vị hành chính gồm 19 xã và 01 thị trấn.
Dân số năm 2017 là 142. (trong đó đồng bào dân tộc thiểu số trên 12.500 người, chiếm trên 8%). Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo trên 20%. Trong những năm qua mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, song với việc triển khai đồng bộ, sáng tạo sự chỉ đạo của tỉnh Thái Nguyên; sự lãnh đạo, điều hành linh hoạt, kịp thời của Huyện ủy, HĐND, UBND huyện; sự nỗ lực cố gắng của các cấp, các ngành và sự đồng thuận, quyết tâm cao của nhân dân trong huyện, tình hình kinh tế -xã hội huyện Phú Bình tiếp tục được giữ ổn định và có sự tăng trưởng; đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân ngày một cải thiện.
Cũng giống như nhiều địa phương khác trong tỉnh vấn đề bạo lực gia đình ở huyện Phú Bình là vấn đề đang nhức nhối, nhiều vụ việc bạo lực gia đình không được trình báo, không được phát hiện, nạn nhân vẫn âm thầm chịu đựng bị bạo lực gia đình và chưa nhận được sự hỗ trợ. Theo báo cáo của 3 phòng Văn hóa - Thông tin huyện tình trạng bạo lực gia đình trên địa bàn huyện xảy ra ít, tuy nhiên còn có nhiều vụ việc người dân không trình báo nên các cơ quan chức năng ko biết. Người gây bạo lực chưa được xử lý nghiêm minh, các hình thức xử phạt chỉ mang tính răn đe chứ chưa mang lại hiệu quả thực sự. Phòng, chống BLGĐ không phải là “Chuyện riêng của gia đình” mà là trách nhiệm của mỗi người dân và toàn xã hội; Do vậy, các hoạt động ngăn ngừa, giảm thiểu và xử lý các hành vi BLGĐ nhất thiết phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và người dân.
Tuy nhiên, do Công tác xã hội ở Việt Nam là một nghề mới, còn tồn tại nhiều khó khăn bất cập. Trong lĩnh vực phòng chống bạo lực gia đình vai trò của công tác xã hội còn mờ nhạt. Theo đề án 32 “ Phát triển đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội trong cả nước, phấn đấu đến năm 2015 tăng khoảng 10%. Trong đó, mỗi xã, phường, thị trấn có ít nhất từ 01 đến 02 cán bộ, viên chức, nhân viên công tác xã hội thuộc chức danh không chuyên trách hoặc cộng tác viên công tác xã hội với mức phụ cấp hàng tháng bằng mức lương tối thiểu chung do Chính phủ quy định.” nhưng trên thực tế hiện nay trên địa bàn huyện chưa có những nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp.
Họ là những cán bộ bán chuyên trách, kiêm nhiệm nên khi xảy ra tình trạng bạo lực gia đình các nạn nhân chưa được giúp đỡ toàn diện, chưa phát huy được nội lực của mình. Nhận thức rõ vấn đề trên tác giả đã chọn đề tài: “Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong phòng chống bạo lực gia đình tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên” để nghiên cứu và từ đó tìm ra giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động, phát huy vai trò của nhân viên công tác xã hội trong phòng, chống bạo lực gia đình.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, tác giả lựa chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, bài viết, tạp chí tiêu biểu trong nước và quốc tế liên quan đến bạo lực đối với phụ nữ. Cụ thể như sau: 2. Những nghiên cứu trên thế giới: Tạp chí quốc tế về phúc lợi xã hội (International Journal of Social Welfare) số 18/2009 đã đăng tải bài viết của tác giả Weinehall, K.
và Jonsson, M về “Sự bảo vệ phụ nữ khỏi bạo hành của nam giới – Women under protection – in hiding from violent men” (2009: 419-430). Các tác giả cho biết, năm 2007, dân số Thụy Điển vào khoảng 11.047 người, trong đó có khoảng 9 triệu người đang phải sống trong những điều kiện có nguy cơ cao cần sự bảo vệ cho sự an toàn của họ. 60% là phụ nữ, hầu hết họ đang phải trốn chạy khỏi những người đàn ông đã đánh đập họ, thậm trí vẫn tiếp tục đe dọa và tìm kiếm họ. Với nhóm phụ nữ này, các dịch vụ xã hội đem đến cho họ nhiều sự trợ giúp hữu ích như cung cấp thức ăn, chỗ ở, chăm sóc y tế, hỗ trợ tài chính và các hình thức bảo vệ xã hội.
Điều đáng quan ngại là các dịch vụ xã hội cũng gặp nhiều khó khăn trong việc trợ giúp các nạn nhân do sự hạn chế về nguồn lực tài chính.