ĐẶT VẤN ĐỀ Bắt nạt ở học sinh trung học là chuyện xảy ra ở mọi nơi, và chúng ta thƣờng bỏ qua nó vì coi nhƣ đây là chuyện nghịch ngợm tuổi học trò. Tuy nhiên, hậu quả của những chuyện bắt nạt đôi khi lại lớn hơn rất nhiều vì nó gây ra những ảnh hƣởng lâu dài tới kết quả học tập, sức khỏe tâm thần và sức khỏe thể chất đối với cả kẻ bắt nạt lẫn nạn nhân [37]. Bắt nạt có đầy đủ ba đặc điểm: (1) hành vi gây hấn có chủ đích mang tính trực tiếp hay gián tiếp về thể chất, ngôn ngữ, tâm lý hay quan hệ xã hội nhằm gây hại cho nạn nhân, (2) diễn ra trong mối tƣơng quan bất bình đẳng về quyền lực và (3) có tính chất lặp lại [28]. Bắt nạt bao gồm hai hình thức: Bắt nạt học đƣờng (BNHĐ) là bắt nạt với các hành vi trực tiếp nhƣ đánh đập, hành hung, đe dọa trực tiếp….
và bắt nạt qua mạng (BNQM) là bắt nạt với các hành vi gián tiếp nhƣ đe dọa, sỉ nhục qua điện thoại, tin nhắn, bôi nhọ trên các trang mạng xã hội… Bắt nạt ở trƣờng học đang xuất hiện ngày càng phổ biến trên toàn thế giới trong những năm gần đây. Theo một khảo sát cuả Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thực hiện năm 2001/2002 về Hành vi sức khỏe của học sinh độ tuổi 11, 13 và 15 ở 35 quốc gia cho thấy xấp xỉ 34% trẻ em đã từng bị bắt nạt ít nhất 1 lần và khoảng 35% đã từng bắt nạt các bạn khác trong 2 tháng trƣớc [10], [28]. Theo kết quả khảo sát của tổ chức Plan năm 2014 với 3.000 học sinh của 30 trƣờng THCS, THPT trên địa bàn Hà Nội, trong số 71% nam sinh và nữ sinh báo cáo về hành vi bắt nạt do bạn học gây ra, hành vi bắt nạt tinh thần (bắt nạt bằng lời nói, bắt nạt xã hội) chiếm đa số (66%), chỉ có 1/3 là hành vi bắt nạt thể chất. Đồng thời, tỉ lệ học sinh nữ có hành vi bắt nạt (58%) cao hơn tỉ lệ ở học sinh nam (40%) [34].
Sự phát triển nhanh chóng và sự phổ biến của công nghệ thông tin, sự sở hữu và sự dễ dàng tiếp cận với Internet mọi lúc mọi nơi của vị thành niên nói chung và học sinh nói riêng đã làm gia tăng hành vi BNQM thông qua các thiết bị công nghệ thông tin (CNTT) [9] [10] [5] [6] [23] [24]. Các nghiên cứu cho thấy các hành vi bị bắt nạt dẫn tới nhiều tác động lâu dài ở vị thành niên nhƣ có lòng tự trọng kém, căng thẳng, trầm cảm và tự tử [9], [13], [31], [36], [39]. 2 Học sinh trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT) luôn đƣợc nhà trƣờng, gia đình và xã hội dành một sự quan tâm rất lớn, bởi các em chính là thế hệ tƣơng lai của đất nƣớc. Việc tìm hiểu về hành vi bị bắt nạt (BNHĐ và BNQM) hiện nay là một vấn đề cấp bách cần thiết bởi tầm quan trọng trong việc phát triển con ngƣời của mỗi quốc gia - con ngƣời là nguồn lực vô cùng quý giá đối với sự phát triển kinh tế xã hội.
Cũng nhƣ trƣớc những thực trạng đáng báo động và những hậu quả gây ra từ BNHĐ và BNQM đã ảnh hƣởng nghiêm trọng đến định hƣớng giá trị của học sinh, xói mòn giá trị văn hóa và suy giảm chất lƣợng giáo dục của nhà trƣờng, gia đình và xã hội. Hiện nay, mặc dù đã có các công trình nghiên cứu ở Việt Nam về hành vi bị bắt nạt ở học sinh trung học [41], [29], [30] nhƣng do không có sự thống nhất trong định nghĩa và đo lƣờng về hành vi bắt nạt dẫn tới những hạn chế trong so sánh kết quả nghiên cứu giữa các đề tài cũng nhƣ đảm bảo đƣợc tính chính xác của kết quả nghiên cứu. Để khắc phục đƣợc hạn chế này cần thiết phải chuẩn hoá bộ công cụ đo lƣờng hành vi bị bắt nạt của học sinh trung học phù hợp với bối cảnh của Việt Nam và đảm bảo đƣợc khả năng so sánh với các kết quả nghiên cứu trên thế giới. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu ―Ảnh hưởng của bắt nạt học đường và bắt nạt qua mạng đến sức khỏe tâm thần của học sinh ở đô thị Việt Nam”, nghiên cứu đã bƣớc đầu chuẩn hóa bộ công cụ đo lƣờng hành vi bị bắt nạt ở nhóm học sinh đô thị Việt Nam, góp phần cung cấp một bộ công cụ có giá trị và độ tin cậy có thể áp dụng trong quần thể học sinh đô thị [27].
Trên cơ sở khuyến nghị của nhóm tác giả về cần thiết tiếp tục chuẩn hoá bộ công cụ với học sinh ở nông thôn của Việt Nam, đề tài “Chuẩn hóa công cụ đo lƣờng hành vi bị bắt nạt của học sinh trung học tại khu vực nông thôn huyện Ba Vì, Hà Nội năm 2017” đƣợc thực hiện với mong muốn góp phần chuẩn hoá bộ công đo lƣờng hành vi bị bắt nạt (BNHĐ và BNQM) đảm bảo tính giá trị, độ tin cậy phù hợp với nhóm học sinh ở nông thôn Việt Nam để có thể sử dụng nhằm so sánh với kết quả nghiên cứu ở học sinh đô thị Việt Nam cũng nhƣ trên thế giới. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Tìm hiểu quan niệm và trải nghiệm của học sinh trung học về hành vi bị bắt nạt tại khu vực nông thôn huyện Ba Vì, Hà Nội năm 2017. Phân tích tính giá trị và độ tin cậy của bộ công cụ đo lƣờng hành vi bị bắt nạt với học sinh trung học tại khu vực nông thôn huyện Ba Vì, Hà Nội năm 2017.
4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm và các lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu a. Khái niệm về bắt nạt Bắt nạt có thể bao gồm nhiều kiểu hành vi khác nhau. Bắt nạt thân thể gồm bất kỳ kiểu bạo lực nào về thân thể, bất kể nó nhỏ nhƣ thế nào.
Kiểu bắt nạt này chiếm 30,5% của bắt nạt học đƣờng. Nó gồm việc đánh đập nạn nhân, hoặc một hành động đơn giản nhƣ ngoéo chân, làm ai đó vấp ngã. Kiểu bắt nạt khác là bắt nạt bằng lời nói. Kiểu bắt nạt này gồm hành vi xúc phạm, trêu chọc, chế nhạo và những đe doạ bạo lực.
Kiểu bắt nạt này chiếm 46,5% của những vụ bắt nạt ở trƣờng học [11]. Bắt nạt ở học sinh là ―hành vi gây hấn có chủ đích mang tính trực tiếp hay gián tiếp về thể chất, ngôn ngữ, tâm lý hay quan hệ xã hội nhằm gây hại cho nạn nhân, diễn ra trong mối tương quan bất bình đẳng về quyền lực và có tính chất lặp lại‖ [28]. Nhƣ vậy, hành vi bắt nạt đƣợc xác định bởi 3 yếu tố đặc trƣng là: (1) một biểu hiện của sự hung hăng, cố ý làm hại ngƣời khác, (2) giữa hai bên có sự chênh lệch về sức mạnh hay đặc điểm nào đó khiến ngƣời bị bắt nạt không có khả năng bảo vệ đƣợc bản thân và (3) hành vi này lặp đi lặp lại nhiều lần trong khoảng thời gian nhất định. Do đó những hành vi trêu đùa, không cố ý, xảy ra một lần không đƣợc xem là hành vi bắt nạt.
Khái niệm bắt nạt học đường (BNHĐ) Các nhà khoa học trên thế giới đã bắt đầu nghiên cứu đến hiện tƣợng bắt nạt từ thập niên 70, với nghiên cứu đầu tiên của Tiến sĩ Dan Olweus, một nhà khoa học Na Uy, đƣợc xem nhƣ ngƣời mở đƣờng và là ―cha đẻ‖ của các nghiên cứu về vấn đề bắt nạt và ngƣợc đãi. Tuy nhiên định nghĩa này lại chƣa đề cập tới yếu tố chênh lệch quyền lực và yếu tố cố tình làm hại. Nhƣ vậy, bắt nạt học đƣờng là: - Hành vi cố ý nói, hoặc làm điều gì đó lặp lại nhiều lần mà gây hại cho một ngƣời. - Người bị bắt nạt không thể bảo vệ bản thân hoặc chấm dứt hành vi bắt nạt do yếu thế hơn (ví dụ, ngƣời bắt nạt khỏe hơn, có hội đông hơn, nổi tiếng hơn v.
- Hành vi bắt nạt có thể xảy ra trực tiếp giữa cá nhân - cá nhân ở trƣờng học, hoặc trên đƣờng đi học/về nhà, hoặc qua các thiết bị điện tử (tin nhắn, gọi điện thoại, Facebook v. Từ những quan điểm của các nhà nghiên cứu trên, có thể xác định: Bắt nạt học đƣờng là một dạng hành vi của bạo lực học đƣờng, cố ý làm hại, có sự chênh lệch quyền lực và lặp đi lặp lại của một học sinh, hoặc nhóm học sinh này đối với học sinh khác trong một thời gian nhất định. Khái niệm bắt nạt qua mạng ((cyber bullying - BNQM) hoặc (cyber victimization)) Trong cuốn sách ―How to Beat Cyberbullying‖, tác giả Judy Monroe Peterson cho rằng việc dùng máy tính, điện thoại hay những thiết bị công nghệ, điện tử khác để bắt nạt đƣợc gọi là bắt nạt trực tuyến. Thủ phạm của bắt nạt trực tuyến dùng những thiết bị điện tử này để gây xấu hổ, quấy rầy, hoặc hăm dọa một ngƣời nào đó.
Họ có thể tấn công lặp đi lặp lại, ban ngày hay đêm. Nạn nhân cảm thấy bị đe dọa bởi vì họ không thể thoát khỏi sự tấn công ấy và có thể không biết ai đang tấn công mình. Trong cuốn sách ―Cyberbullying: Activities to Help Children and Teens to Stay Safe in a texting, twittering, social networking world‖, tác giả đã cho rằng: bắt nạt trực tuyến có thể là điều khủng khiếp, để lại tổn thƣơng cảm xúc nhiều hơn là tổn thƣơng bên ngoài thân thể. Ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có nhiều tác giả nghiên cứu về bắt nạt học đƣờng và bắt nạt qua mạng nhƣ: Trần Thị Minh Đức, Trần Văn Công, Đặng Hoàng Minh, Trần Thành Nam, Nguyễn Thị Duyên…Trong đó, công trình nghiên 6 cứu của tác giả Nguyễn Thị Nga ―Tìm hiểu hiện tƣợng bắt nạt ở học sinh phổ thông‖ (2011) bƣớc đầu đã có những khảo sát về hình thức bắt nạt qua mạng (bắt nạt trực tuyến).
Nghiên cứu này đƣợc thực hiện trên 459 học sinh của ba cấp: tiểu học (110 học sinh chiếm 24%), THCS (201 học sinh chiếm 43,8%), THPT (148 học sinh, chiếm 32,2%). Từ những nghiên cứu trên đây, có thể xác định: Bắt nạt qua mạng là bắt nạt thông qua các phương tiện thông tin kết nối mạng, là hành vi cố ý gây hại, có sự chênh lệch quền lực và lặp đi lặp lại của một học sinh, hoặc nhóm học sinh này đối với học sinh khác trong một thời gian nhất định. Các hình thức bắt nạt học đường và bắt nạt qua mạng a.