Chương 1: Một số van dé lý luận về hoàn thiện pháp luật phòng, chống bạo lực học đường đối với trẻ em. - Chương 2: Thực trạng về hoản thiện pháp luật phòng, chống bạo lực học đường đối với trẻ em ở Việt Nam. - Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về phòng, chống bạo lực học đường ở trẻ em hiện nay. MỘT SO VAN DE LÝ LUẬN VE HOÀN THIỆN PHÁP LUAT PHONG, CHONG BAO LUC HOC DUONG DOI VỚI TRE EM 1.
Khai niệm, vai trò của pháp luật phòng, chong bạo lực học đường 1. Khai niệm Trẻ em. a) Định nghĩa TDưới góc độ xã hội, trong quá trình ton tại và phát triển, đời người được chia thành 2 giai đoạn: giai đoạn trẻ em và giai đoạn người lớn. Mỗi giai đoạn có những đặc điểm về tâm sinh lý khác nhau.
Trẻ em là một thuật ngữ nhằm chỉ một nhóm xã hội thuộc về một độ tuổi nhất định trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người. Do là những người chưa trưởng thành, còn non not về thé chat và trí tuệ, dé bị tổn thương, cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt. Tiêu chí xác định trẻ em và người lớn đó chính là độ tuổi. Do điều kiện kinh tế xã hội của các quốc gia là khác nhau nên cách quy định độ tuôi của trẻ em cũng khác nhau.
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm trẻ em trong Công ước về quyển trẻ em 1989 được quy định như sau: “7é em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định dưới tuổi thành niên sớm hơn” ”. Khái niệm trẻ em trong công ước được quy định theo hướng mở bởi, mỗi quốc gia có điều kiện kinh tế xã hội cũng như nền văn hóa khác nhau nên có những quan điểm khác nhau về trẻ em. Hiện nay, trên thế giới có có một số nước quy định độ tuôi của trẻ em thấp hơn 18 tuổi như: Triều tiên quy định trẻ em là người dưới 17 tuổi, Việt Nam quy định độ tuổi của trẻ em là dưới 16 tuổi,. Độ tuổi của trẻ em trong pháp luật Việt Nam sẽ được làm rõ ở đoạn dưới.
Hiến pháp Việt Nam 2013 không quy định về khái niệm của trẻ cũng như cách xác định độ tuổi trẻ em. Khái niệm trẻ em ở Việt Nam được quy 1 Điều 1 Công ước về Quyền trẻ em 1989 định trong luật và văn bản dưới luật, tuy nhiên, chưa có sự thống nhất về độ tuổi của trẻ em. Luật Trẻ em Việt Nam 2016 quy định: “Trẻ em là người dưới 16 môi”? ; Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định “Tuổi chiu trách nhiệm hình sự là từ đủ 16 tuổi trở lên với mọi tội pham. từ ẩu 14 tuổi đến dưới 16 tuổi với một số tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm 93 trong.
(co thé hiểu độ tuổi của trẻ em trong Bộ luật Hình sự là dưới 16 tuổi); Bộ luật Dân sự 2015 quy định “Người chưa thành biên là người chưa đủ 18 tuổi, người dưới 18 tuổi tham gia vào quan hệ dân sự bị hạn chế. Các văn bản pháp luật ở từng lĩnh vực khác nhau lại có những cách gọi khác nhau (trẻ em, người chưa thành niên, người lao động chưa thành miên, .), không ghi rõ độ tuổi nào được coi là trẻ em, tuy nhiên, mỗi văn bản lại đưa ra 1 ranh giới độ tuôi khác nhau. Chung quy lại, trẻ em và người chưa thành niên đều là những người chưa trưởng thành, còn non not về thê xác và tinh than và cần được gia đình, nha nước, xã hội bảo vệ. Xét dưới góc độ vé độ tuổi, khái niệm người chưa thành niên bao hàm cả khái niệm trẻ em, nghĩa là, người chưa thành niên bao gồm trẻ em (người dưới 16 tuổi) và người từ 16 đến 18 tuổi.
Từ những phân tích nêu trên, tác giả xin đưa ra khái niệm về trẻ em như sau: “Tre em là người dưới 18 tuổi, còn non nét về thé chất lân tinh thần, có những quyên và nghĩa vụ được pháp luật quy định và được bảo đảm thực hiện trong thực tế `. ? Điều 1 Luật Trẻ em 2016 3 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 4 Điều 21 Bộ Luật Dân sự 2015 5 Điều 143 Bộ Luật Lao động 2019 b) Đặc điểm Qua định nghĩa đã rút ra nêu trên, có thé thay đối tượng Trẻ em có một số đặc điểm riêng biệt như sau: Thứ nhất, về đặc điểm tâm lý: Trẻ em là đối tượng có sự phát triển bất cân đối về mặt trí tuệ, chưa thê tự nhận thức đúng đắn và làm chủ hành vi của cá nhân hay còn gọi là chưa có chính kiến. Độ tuổi nay bắt đầu có sự phát triển khả năng tư duy trừu tượng, tư duy logie nên có thể dẫn đến tăng cường nhận thức về bản thân và khả năng phản ánh về cái tôi cá nhân. Đồng thời, với sự thay đổi vẻ thé chất, trẻ em có xu hướng bận tâm về bể ngoài, sức hấp dẫn va nhạy cảm cao đối với sự khác biệt so với các bạn đồng trang lứa.
Dần dân, trẻ em dan hình thành tâm lý “phóng đại” các năng lực của minh, tự đánh giá ban thân cao hơn hiện thực dẫn đến các thuật ngữ “tuổi khủng hoảng”, “tuổi bất trị”. Vì vậy, trẻ em có đặc điểm tâm ly hết sức phức tạp trải dài từ khi sinh ra đến khi phát triển ngồi trên ghế nhà trường thông qua những kiến thức tiếp nhận được từ đời sống thường ngay cũng như từ sự phát triển về mặt sinh học của cơ thể. Thứ hai, về mặt xã hội: Trẻ em là đối tượng luôn luôn có xu hướng tìm tòi, học hỏi những tri thức nhân loại, khám phá những điều mới lạ trong đời sống xung quanh. Sự học hỏi, khám pha nay có thé được thực hiện do chính bản thân trẻ em, do gia đình dạy dỗ và do nhà trường truyền tải.
Những kiến thức thu nhận được, kinh nghiệm được đúc kết trong quá trình trải nghiệm, áp dụng kiến thức đã học trong thực tế là một yếu tố quan trọng quyết định về nhân cách, ý thức xã hội của trẻ em. Một thực tế cho thấy rằng, môi trường sống của trẻ em quyết định phan lớn đến sự phát triển, thói quen, mong muốn, cách hành xử của chúng khi trưởng thành. Chúng có thói quen bắt chước hanh vị của những người xung quanh nó cũng như chịu ảnh hưởng từ quan niệm, định kiến về một vấn dé giéng như những người đi trước. Dién hình, có thé 10 thấy rằng, một đứa trẻ được sinh ra, lớn lên trong môi trường làm ăn buôn bán thì thường phát triển về kỹ năng bán hàng hơn là những đứa trẻ được sinh ra từ một gia đình có bố mẹ làm bác sĩ.
Thứ: ba, về sự phát triển sinh lý: Có thé nói, độ tuôi trẻ em là quãng đời dai có nhiều sự phát triển, thay đổi, hoàn thiện thé chất, các chức năng sinh lý của cơ thể của trẻ. Tùy vào mức độ dinh dưỡng, cấu trúc gen và kiến thức xã hội, sự phát triển sinh lý giữa những đứa trẻ có sự khác nhau không phụ thuộc vào độ tuổi của chúng. Tuy nhiên, vao những giai đoạn cụ thể, trẻ em có thay đổi nhanh chóng về mặt thé chat lẫn tâm sinh lý có thé thay rõ như những cải tô về cơ thé về mặt hình thái của các mô và các tuyến nội tiết như tuyết sinh dục, tuyến giáp, tuyến thượng thận. Thứ tw, về các quyền của trẻ em: Dù trong các văn bản quốc tế hay trong văn bản pháp luật trong nước có sự chênh lệch về độ tuổi của trẻ em nhưng trẻ em vẫn được xác định là đối tượng cần được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục, cần có sự quan tâm đặc biệt từ gia đình, nhà nước và xã hội để trẻ em nhận được điều kiện phát triển tốt nhất về cả thé chất lẫn tinh than.
Quyển trẻ em được chính thức thừa nhận lần đầu tiên trong bản tuyên ngôn Geneva về quyền trẻ em năm 1924, đánh đấu bước ngoặt cho các hoạt động bảo vệ trẻ em trên toàn thế giới. Một số các văn bản pháp lý quốc tế khác cũng đề cập đến quyên trẻ em như: Ban tuyên ngôn về quyển trẻ em 1959: Công ước quốc tế về các quyển Dân sự, chính trị năm 1966; Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966; Công ước về Xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử với phụ nữ 1979,. Song, các văn kiện này hoặc không có tính ràng buộc về nghĩa vụ pháp lý, chưa chú trọng đến những nhu câu đặc thù của trẻ em. Công ước quốc tế về quyển trẻ em ra đời năm 1989 đã trở thành văn kiện quốc tế co bản và toản điện nhất về quyên trẻ em với sự tham gia của 196 quốc gia, trong đó, Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu A, thứ hai trên thế giới phê chuân 11 Công ước này (vào ngày 20/2/1990).
Theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em, bao gồm 4 nhóm quyên: Quyển được sống: Quyển được phát triển; Quyển được bảo vệ; Quyền được tham gia. Khai niệm Bao lực học đường. a) Khải niệm bạo lực: Trong tiếng Việt, bạo lực được hiểu là “sức mạnh dùng dé cưỡng bức, tran áp hoặc lật đồ”. Theo nội dung của Bách khoa toàn thư mo Wikipedia đưa ra định nghĩa “Bao lực là hành vi sử dung sức mạnh thé chất với muc đích gáy thương vong, tổn hại một ai đó””.
Với ¥ nghĩa chung như vậy, bao lực có thể được sử dụng với cả nghĩa tiêu cực (bạo lực trẻ em, bạo lực gia đình, bao lực giới, bao lực học đường.) hoặc tích cực (bao lực cách mang, dùng bao lực dé tran ap kẻ phạm tội). Tính tiêu cực hay tích cực của bạo lực phụ thuộc vào mục đích sử dụng bạo lực. Theo định nghĩa của té chức y tế thé giới WHO đưa ra thì “Bao lực là hành vi cổ ý sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực hoặc quyên lực dé hủy hoại mình, chong lại người khác hoặc một nhóm người, một tập thể cộng dong làm họ bị ton thương hoặc có nguy cơ tổn thương, hoặc tử vong hoặc sang chấn tâm lý, ảnh hướng đến sự phát triển của họ hoặc gây ra các ảnh hưởng khác "Š. Theo từ điển Xã hội học của G.Trommsdoff: “Bạo lực được hiểu là các hành vi có khuynh hướng hủy diệt như một phương tiện tối hậu dé thực thi quyên lực trong khuôn khổ quan hệ trên dưới một chiều dựa trên uu thé bé ngoài, không có sự thừa nhận yếu thé từ những người khác ``.