CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Ở Việt Nam, vấn đề làng nghề được đề cập đến qua nhiều thời kỳ, với những khía cạnh và các mục đích khác nhau. Khía cạnh kinh tế, văn hóa, xã hội: có nhiều công trình nghiên cứu về làng nghề ở nhiều cấp: Về sách tham khảo: Có một số công trình như: Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam được xuất bản năm 1998 của Bùi Văn Vượng. Tác giả đã tập trung trình bày các loại hình làng nghề truyền thống như: đúc đồng, kim hoàn, rèn, gốm, chạm khắc đá, dệt, thêu ren, giấy dó, tranh dân gian, dệt chiếu, quạt giấy, mây tre đan, ngọc trai, làm trống.
Ở đây chủ yếu giới thiệu lịch sử, kinh tế, văn hoá, nghệ thuật, tư tưởng, kỹ thuật, các bí quyết nghề, thủ pháp nghệ thuật, kỹ thuật của các nghệ nhân và các làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam. Trong cuốn Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá của Dương Bá Phượng, xuất bản năm 2001, tác giả đã đề cập khá đầy đủ từ lý luận đến thực trạng của làng nghề: từ đặc điểm, khái niệm, con đường và điều kiện hình thành làng nghề, tập trung vào một số làng nghề ở một số tỉnh với các quan điểm, giải pháp và phương hướng nhằm phát triển các làng nghề trong thời kỳ công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Cùng với hướng này còn có cuốn Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá xuất bản năm 2003 của tác giả Mai Thế Hởn,… Và nhiều công trình khác của nhiều tác giả như: Phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Trần Minh Yến, xuất bản năm 2003. Về đề tài nghiên cứu: Đề tài khoa học về việc Hoàn thiện các giải pháp kinh tế tài chính nhằm khôi phục và phát triển làng nghề ở nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng, năm 2004 của Học viện tài chính; Tiếp tục đổi mới chính sách và giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề truyền thống ở Bắc Bộ thời kỳ đến năm 5 2010 của Bộ Thương mại năm 2003.
Đặc biệt phải kể đến là đề tài Nghiên cứu về quy hoạch phát triển làng nghề thủ công theo hướng công nghiệp hoá nông thôn ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp cùng với tổ chức hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) năm 2002, đã điều tra nghiên cứu tổng thể các vấn đề có liên quan đến làng nghề thủ công nước ta về tình hình phân bố, điều kiện kinh tế - xã hội của làng nghề, nghiên cứu đánh giá 12 mặt hàng thủ công của làng nghề Việt Nam về nguyên liệu, thị trường, công nghệ, lao động…của tác giả Trần Minh Yến, năm 2003. Nhìn chung các tác giả đã làm rõ về khái niệm, lịch sử phát triển, đặc điểm, thực trạng sản xuất và xu hướng phát triển của các làng nghề. Khía cạnh du lịch: Ở khía cạnh này, cũng có những đề tài nghiên cứu về du lịch Việt Nam nói chung, du lịch làng nghề ở Hà Tây cũ và Hà Nội nói riêng. Phát triển du lịch làng nghề Hà Tây trước đây đã được khá nhiều tác giả là cá nhân, cơ quan trong và ngoài ngành du lịch nghiên cứu từ nhiều năm qua bởi đây là “điểm đến” với tiềm năng vô cùng đa dạng và phong phú về tài nguyên du lịch tự nhiên cũng như tài nguyên du lịch nhân văn.
Có thể kể đến hàng loạt các công trình nghiên cứu, hội thảo có liên quan đến vấn đề này như: hội thảo Phát triển du lịch làng nghề truyền thống Hà Tây (12/2003) do Sở Du lịch Hà Tây tổ chức với sự hỗ trợ của Tổng cục du lịch Việt Nam và Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Hà Tây, hội thảo Phát triển du lịch làng nghề tại hội du lịch làng nghề truyền thống Hà Tây lần thứ 3 (12/2005); hội thảo Phát triển du lịch làng nghề (2007), đề tài Nghiên cứu đánh giá khả năng khai thác và giải pháp phát triển một số làng nghề truyền thống tại Hà Tây phục vụ khách du lịch của trường Cao đẳng du lịch Hà Nội chủ trì phối hợp với Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương cùng với Trung tâm công nghệ thông tin du lịch và Sở Du lịch Hà Tây (2003), đề tài Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch làng nghề truyền thống Hà Tây do Sở Du lịch Hà Tây chủ trì (12/2005), công trình nghiên cứu khoa học công phu, tâm huyết có chất lượng chuyên môn cao của tiến sĩ Phạm Quốc Sử (2007) Phát triển du lịch làng nghề nghiên cứu trường hợp tỉnh Hà Tây được cho ra đời bởi nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội. 6 Từ năm 2008, Hà Tây sát nhập vào Hà Nội vấn đề phát triển du lịch làng nghề cũng được nhiều cơ quan đơn vị quan tâm, có thể kể đến các hội thảo liên quan đến vấn đề này như: hội thảo Làng nghề Hà Nội – Tiềm năng phát triển và du lịch do Sở Công thương Hà Nội tổ chức năm 2010 với sự giúp đỡ của Tổng cục Du lịch và tháng 10/2012 vừa qua Hiệp hội làng nghề Việt Nam phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu, bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam tổ chức hội thảo mang tên Giá trị văn hóa, du lịch của sản phẩm làng nghề truyền thống Việt Nam. Cùng có những suy nghĩ và trăn trở với việc phát triển du lịch làng nghề Hà Nội, vùng đất được mệnh danh là “đất trăm nghề” nhưng với những tìm tòi, hướng đi và cách giải quyết mới, tác giả muốn đi tìm một hướng thoát cho sự phát triển của du lịch làng nghề Hà Nội bằng việc các cơ quan QLNN vào cuộc chứ không đơn thuần là việc một mình người dân làng nghề Hà Nội tự “bươn chải” như hiện nay. Tác giả đã có ý tưởng và dành nhiều công sức tìm kiếm tài liệu cũng như đi thực tế khảo sát tại một số làng nghề tiêu biểu của Hà Nội trong phát triển du lịch và làng nghề ở một số địa phương khác để từ đó không những tìm ra thế mạnh riêng có của Hà Nội trong việc phát triển du lịch làng nghề và lợi thế cạnh tranh với các làng nghề ở địa phương khác mà còn biết được những điểm yếu, những thách thức.
Xây dựng được mô hình và giải pháp quản lý đối với làng nghề trong việc phát triển du lịch hiện nay chính là vấn đề nghiên cứu mà tác giả đặt ra cho luận văn. Cơ sở lý luận về du lịch làng nghề. Khái niệm, điều kiện hình thành và phát triển du lịch làng nghề. Khái niệm du lịch làng nghề.
* Khái niệm về làng nghề: Khái niệm làng nghề được hiểu là làng tuy vẫn diễn ra các hoạt động trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ lẻ, cũng có một số nghề phụ khác (đan lát, làm nương, làm chiếu….) song đã nổi trội lên một nghề cổ truyền, tinh xảo, với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường, có hội, có ông trùm, phó cả…cùng một số thợ chính và phó nhỏ đã chuyên tâm, có quy trình 7 công nghệ nhất định và sống chủ yếu bằng nghề đó. Họ sản xuất ra những mặt hàng thủ công có tính mỹ nghệ. Những sản phẩm này trở thành sản phẩm hàng hoá có quan hệ thông thương với thị trường trong nước và tiến tới mở rộng xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Những làng nghề này ít nhiều đã nổi danh từ lâu, có quá khứ hàng trăm năm.
Tên làng cũng có khi đã đi vào lịch sử, ca dao tục ngữ…trở thành di sản văn hoá dân gian. Như vậy, có thể thấy làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được tạo nên bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lí nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống với nguồn thu chủ yếu từ nghề thủ công, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hoá. Theo tác giả Đặng Kim Chi “Làng nghề là làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số lao động và thu nhập so với nghề nông” [9]. Có rất nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau khi đề cập đến tiêu chí để một làng ở nông thôn được coi là một làng nghề.
Theo Báo cáo môi trường làng nghề Việt Nam năm 2008 [7] của Bộ Tài nguyên môi trường, tiêu chí công nhận làng nghề gồm có 3 nội dung sau: - Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn. - Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. - Chấp hành tốt các chính sách pháp luật của Nhà nước. Như vậy, các tiêu chí công nhận làng nghề gồm: - Giá trị sản xuất và thu nhập từ phi nông nghiệp ở làng nghề đạt trên 50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng nghề trong năm; hoặc doanh thu hàng năm từ ngành nghề ít nhất đạt trên 300 triệu đồng.
- Số hộ và số lao động tham gia thường xuyên hoặc không thường xuyên, trực tiếp hoặc gián tiếp đối với nghề phi nông nghiệp ở làng ít nhất đạt 30% so với tổng số hộ hoặc lao động ở làng nghề có ít nhất 300 lao động. 8 - Sản phẩm phi nông nghiệp do làng sản xuất mang tính đặc thù của làng và do người trong làng tham gia. * Khái niệm du lịch làng nghề. Du lịch làng nghề là một hình thức của loại hình du lịch văn hóa.
Để hiểu được khái niệm DLLN, trước tiên tác giả xin được đề cập về khái niệm du lịch văn hoá theo luật Du lịch Việt Nam năm 2005. Tại khoản 20, điều 4, chương 1, luật Du lịch có ghi rõ “Du lịch văn hoá là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống” [21]. Từ đó chúng ta có thể hiểu được sản phẩm DLLN được hình thành dựa trên mối liên kết giữa ba đối tượng: Làng nghề - chủ thể cung ứng sản phẩm du lịch - đối tượng sử dụng sản phẩm DLLN. Vì vậy, DLLN mang ý nghĩa tổng hợp của ba chủ thể trên.