Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về huyện Phú Lương 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Từ ngày 01/01/1997, tỉnh Bắc Thái được chia tách thành 2 tỉnh: Bắc Kạn và Thái Nguyên, Phú Lương là 1 trong 9 huyện, thành phố, thị xã thuộc tỉnh Thái Nguyên. Sau khi tỉnh Thái Nguyên được tái lập, Phú Lương là một huyện miền núi trực thuộc, vị trí nằm ở phía Bắc tỉnh Thái Nguyên.
Phía Bắc: giáp với huyện Chợ Mới - tỉnh Bắc Kạn; phía Nam, Đông Nam: giáp với thành phố Thái Nguyên; phía Tây: giáp với huyện Định Hóa; phía Tây Nam: giáp với huyện Đại Từ; phía Đông: giáp với huyện Đồng Hỷ. Với diện tích 368,94 km2, dân số trên 107 nghìn người, gồm 16 đơn vị hành chính (14 xã, 02 thị trấn). Toàn huyện có 07 xã thuộc diện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và xã An toàn khu thuộc diện được hưởng Chương trình 135/CP của Chính phủ. Đặc điểm địa hình: Phú Lương là huyện có địa hình tương đối đa dạng, độ cao trung bình so với mặt biển từ 100 – 400m.
Mật độ sông suối: Phú Lương có mật độ sông suối lớn (bình quân 0,2km/km2), trữ lượng thủy văn cao, đủ cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của dân cư trong huyện. Khí hậu: Mang tính nhiệt đới gió mùa, với hai mùa nóng - lạnh rõ rệt. Tài nguyên rừng: Phú Lương là huyện miền núi thấp có diện tích đất lâm nghiệp chiếm tỷ lệ lớn. Tổng diện tích đất lâm nghiệp của huyện hiện nay là 17.246 ha, chiếm 46,7% tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện.
Tài nguyên khoáng sản và vật liệu xây dựng: Phú Lương có mỏ than, mỏ đá và đất cao lanh. Phú Lương là huyện nằm ở phía Bắc tỉnh Thái Nguyên, là địa phương có nhiều lợi thế về khai thác khoáng sản, vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm sản, du lịch - dịch vụ. Với diện tích tự nhiên 368,94 km2, 16 đơn vị hành chính gồm 8 c 2 thị trấn và 14 xã. Huyện có điều kiện thuận lợi về giao thông để giao thương hàng hóa như tuyến Quốc lộ 3, Quốc lộ 1B … nối kết Phú Lương với các tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng, Tuyên Quang; đặc biệt là điểm nối với tuyến đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên, đây là điều kiện tốt để phát triển kinh tế - xã hội.
Trong những năm gần đây, Phú Lương đã khai thác tốt những thế mạnh của mình để đạt được những kết quả kinh tế đáng ghi nhận. Về sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 11%; tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn huyện năm 2012 đạt 254 tỷ đồng. Đến nay trên địa bàn huyện có 23 làng nghề được cấp Bằng công nhận, 1.123 cơ sở sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp. Các cơ sở sản xuất, các làng nghề đã đi vào hoạt động có hiệu quả, thu hút 5.500 lao động ở khu vực nông thôn.
Các ngành công nghiệp chủ lực của huyện là khai thác khoáng sản, sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm sản, cơ khí sửa chữa, may mặc. Trong những năm qua, đã thu hút đầu tư được nhiều dự án đầu tư vào địa bàn như nhà máy may Banpo, nhà máy gạch Tuynel Phú Lộc… Về đầu tư xây dựng cơ bản: Công tác đầu tư xây dựng được quan tâm và thực hiện tốt việc vận động, thu hút đầu tư, các chương trình, dự án đầu tư trên địa bàn đều triển khai thực hiện công khai, dân chủ và minh bạch. Tập trung xây dựng, nâng cấp các công trình giao thông, thuỷ lợi, y tế, giáo dục, xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn. Từ năm 2010 đến nay đã đầu tư 73 công trình với tổng mức đầu tư trên 437,6 tỷ đồng.
100% xóm đã có đường ô tô đến trung tâm xóm. Hệ thống điện lưới đã được đầu tư nâng cấp, từng bước đáp ứng được nhu cầu sử dụng của nhân dân; đã xây dựng mới 36 trạm biến áp với 51 km đường dây các loại, tổng mức đầu tư 150 tỷ đồng; 98% số hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia. Về nông lâm nghiệp, thủy sản: Nông nghiệp là ngành kinh tê chủ yếu của huyện. Giá trị sản xuất nông - lâm nghiệp, thuỷ sản tăng bi ǹ h quân 7,4%.
Sản lượng lương thực cây có hạt năm 2012 là41. Diện tích và sản lượng các loại cây màu ngày càng nâng cao, góp phần nâng cao giá trị sản xuất trên diện 9 c tích đất canh tác. Giá trị sản xuất bình quân trên một ha đất canh tác đến năm 2012 đạt 63 triệu đồng. Sản lượng chè năm 2012 đạt 41.580 tấn; sản lượng tăng 14,7%; chất lượng, giá trị sản phẩm chè được nâng lên, huyện đang tập trung xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm chè có uy tín được khẳng định trên thị trường như: chè Thác Dài, Khe Cốc - Tức Tranh, Phú Nam - Phú Đô, chè Vô Tranh.Trong 3 năm đã trồng mới và trồng lại 521ha chè, bình quân mỗi năm trồng được 173ha, nâng tổng diện tích chè lên 4.377 ha trong đó chè kinh doanh là 4.
Những năm gần đây trên địa bàn huyện đã thực hiện tốt việc trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi trọc. Việc giao đất giao rừng cho dân được thực hiện một cách triệt để. Đặc biệt, việc phát triển lâm nghiệp của địa phương cùng với các dự án phát triển lâm nghiệp đã thúc đẩy sự tham gia thực hiện việc trồng rừng và bảo vệ rừng của toàn thể nhân dân. Chăn nuôi được đầu tư phát triển mạnh theo hướng trang trại chuyên môn hoá cao.
Giá trị ngành chăn nuôi tăng bình quân 6%, năm 2012 đạt 90,6 tỷ đồng; sản lượng thịt hơi các loại năm 2012 đạt 10.585 tấn, tăng 4,6% so với năm 2010. Diện tích mặt nước đã được đầu tư để nuôi trồng thuỷ sản, sản lượng nuôi trồng năm 2012 đạt 579 tấn. Công tác bảo vệ và phát triển rừng thực hiện có hiệu quả trong 3 năm trồng đươc ̣ 3.019 ha, bình quân mỗi năm trồng được 1.006ha, ổn định tỷ lệ độ che phủ của rừng là 45%. Công tác bảo vệ rừng được tăng cường.
Sản lượng gỗ khai thác từ năm 2010 đến nay đạt 73. Hiện có 30 hợp tác xã, các hợp tác xã kinh doanh có hiệu quả, giá trị sản xuất kinh doanh của các hợp tác xã đạt doanh thu từ 700 triệu đến 1,6 tỷ đồng. Về công tác giải phóng mặt bằng : Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân ủng hộ chủ trương thu hồi đất giải phóng mặt bằng, vận động nhân dân hiến quyền sử dụng đất giải phóng mặt bằng xây dựng đường giao thông nông thôn và các công trình xây dựng, lập phương án dự toán và chi trả tiền bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng theo đúng quy định [19, Tr. 10 c Thương mại - Dịch vụ: Tiếp tục phát triển du lịch theo hướng khai thác các tiềm năng hiện có, gắn phát triển du lịch với hoạt động dịch vụ, nâng cao các loại hình du lịch như Du lịch tâm linh, Du lịch về nguồn, Du lịch sinh thái.
Quy hoạch khu trưng bày giới thiệu các sản phẩm như: Bánh chưng, chè các loại và các sản phẩm đặc sản khác của địa phương. Xây dựng mô hình mẫu của các làng nghề để giới thiệu quy trình trồng, chế biến chè để phục vụ và thu hút du khách. Cơ sở hạ tầng: Về mạng lưới điện: Thực hiện tốt chương trình nâng cấp, cải tạo lưới điện nông thôn giai đoạn 2012-2015 đảm bảo cung cấp điện ổn định và có chất lượng cho sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh, đảm bảo an toàn và giảm tổn thất điện năng. Trong 2 năm qua, cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp tiếp tục quan tâm việc cấp điện cho các xóm vùng sâu, vùng xa chưa có điện.
Hiện nay, trên địa bàn huyện có 144 trạm biến áp; tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn điện đạt trên 80%; hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện đạt 75%. Toàn huyện có 14/16 xã có hệ thống điện đạt tiêu chuẩn. Về mạng lưới giao thông nông thôn: Phú Lương có điều kiện thuận lợi về giao thông để giao thương hàng hóa như tuyến Quốc lộ 3, Quốc lộ 1B, với tổng chiều dài gần 40km, nối kết Phú Lương với các tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng, Tuyên Quang; đặc biệt là điểm nối với tuyến đường cao tốc Hà Nội - Thái Nguyên. Đường tỉnh lộ chạy qua địa bàn huyện có chiều 15km.
Phú Lương còn có mạng lưới giao thông nông thôn khá dày đặc với 545,8 km (gồm 125,4km đường liên xã và 420,4 km đường liên thôn, liên xóm). Đường liên xã: tổng chiều dài 125,4 km, với các tuyến đường chính như: Đường Đu - Khe Mát; Đu - Yên Lạc; Giang Tiên - Phú Đô - Núi Phấn; Yên Ninh - Yên Trạch - Phú Tiến; Đường QL3 - Phấn Mễ - Tức Tranh; QL3 - Bến Giềng - Vô Tranh; Dốc Võng - Trại Giam - Vô Tranh; Gốc Bàng đi Làng Hin - Phấn Mễ; Yên Đổ - Yên Lạc; Ôn Lương - Phú Tiến; Phủ Lý - ATK - Hợp Thành 11 c. Hệ thống giao thông được tập trung đầu tư, nâng cấp, mở rộng đảm bảo cho việc đi lại và giao thương hàng hóa của người dân. Về mạng lưới thủy lợi: Hệ thống thủy lợi được tập trung cải tạo, nâng cấp cơ bản đảm bảo đáp ứng yêu cầu tưới tiêu, phục vụ sản xuất và dân sinh; đã kiên cố hóa được 122,54 km kênh mương và nâng tổng số km kênh mương trên địa bàn toàn huyện là 386 km kênh mương dẫn nước và kênh mương nội đồng; nhiều trạm bơm được đầu tư xây mới, sửa chữa, nâng cấp; hệ thống thủy lợi đã đảm bảo tưới tiêu chủ động đạt trên 50% diện tích đất nông nghiệp.
Tiếp tục xây dựng hoàn chỉnh và cứng hóa hệ thống kênh mương nội đồng để đảm bảo cung cấp cho tưới tiêu [19, Tr. Những điều kiện về tự nhiên và tình hình kinh tế của huyện Phú Lương nói trên có tác động không nhỏ đến công cuộc xây dựng nông thôn mới tại địa phương trong giai đoạn này. Các thành phần dân tộc Trên địa bàn huyện Phú Lương có trên 107 nghìn người, bao gồm 08 dân tộc chủ yếu cùng chung sống, trong đó tỷ lệ người Kinh chiếm 56,08%; người dân tộc thiểu số chiếm 43,92%. Nhân dân các dân tộc trong huyện sống đan xen, tương hỗ, tạo thành một cộng đồng thống nhất.
Với tổng dân số của huyện là 107 nghìn người, đây là lực lượng lao động dồi dào, góp phần to lớn trong việc phát triển kinh tế, xã hội của địa phương.